Vũ Lưu Xuân
Chẳng lẽ Từ Hải có thể chết dễ dàng trong tay tên cáo già Hồ Tôn Hiến được sao? Nguyễn Du đã đồng cảm với Từ Hải trong tác phẩm, sao họ chẳng thể gặp nhau giữa cuộc đời? Và như thế, người viết xin được làm nhịp cầu, để biến khoảng cách thời gian trở thành vô nghĩa.
Một hôm, giữa lưng chừng ngọn núi cao nửa vời nhô ra biển cả, bỗng xuất hiện một hán tử trung niên, hán tử có dáng sừng sững hiên ngang của một cây tùng chịu quen nắng gío, mắt hán tử lúc nào cũnh như đổ lửa, hàm râu quai nón tua tủa kéo bạnh cằm vuông, đặc biệt một vòng xích sắt nặng nề xiềng chặt đôi tay.
Hán tử men xuống chân núi, tìm tới dòng suối trong có ánh nắng xuyên ngang, uống từng vốc nước lớn, rồi lại vốc nước vã đầy lên ngực. Hán tử cất tiếng cười lồng lộng, tiếng cười làm xao xác chim muông, mà có lẽ hổ báo cũng phải rùng mình. Cười dứt, hán tử xé một vạt áo rách, cuốn vào đôi tay, ngay chỗ vòng xiềng, hán tử trầm nửa người xuống nước, rồi cứ thế mài xiềng vào đá núi, công việc tiếp tục hàng giờ, cho tới lúc xích sắt nóng bỏng, lại nhúng nước sũng khăn. Ngày lại ngày, khi ánh nắng vừa lên, hán tử đã bắt đầu công việc, không biết vòng xích sắt mòn được bao nhiêu, nhưng lòng hán tử xem chừng vẫn cứng.
Một hôm, khi nắng chiều vừa xế, phía thượng nguồn chợt xuất hiện bóng dáng một lão thợ săn, râu tóc lão bạc phơ, nhưng đôi mắt vẫn còn rất sáng. Hán tử bước tới, lông mày xếch ngược, mắt đổ hào quang, giọng nói cố kềm chế, nên đầy vẻ lạnh lùng ngạo mạn:
-Lão trượng là ai? Cớ sao lại có nhã hứng tìm tới chốn này?
-Ta là ai ư? Chỉ là một gã liệp hộ trốn đời, suốt một giải non cao, không nơi nào vắng bóng. Ta ngược dòng suối lên nguồn, hay theo rừng thưa xuống núi, há còn vì chủ đích gì sao? Còn ngươi?
-Xích sắt trên tay, tại hạ chẳng qua là một tên tội đồ vượt ngục. Không dám nói dấu, đầu tại hạ treo giá không thấp, chẳng hay lão trượng có cao kiến gì?
-Lầm rồi, lầm rồi, số tiền dù lớn nhưng nào có ý nghĩa gì đối với kẻ dật dân. Chẳng qua ba ngày nay, ta thấy ngươi mài xiềng vào đá núi nên ghé xem chơi. Đá núi khó mòn, mà xiềng sắt còn khó mòn hơn!
-Đá núi khó mòn, xiềng khó mòn hơn, mà lòng tại hạ còn khó mòn hơn gấp bội.
Nói rồi hán tử quay lưng hướng khác, cơ hồ không muốn tiếp tục câu chuyện.
-Hào thay!
Ông lão mỉm cười khoan dung, sẽ sàng với tay sau lưng, rút ra một thanh gươm báu. Ánh nắng chiều phiêu phiêu đổ, chợt lóe lên theo ánh gươm vòng cầu. Hán tử chưa kịp phản ứng, hai vòng sắt gắn liền cổ tay đã đứt lià, mà da thịt không hề rướm máu. Hán tử bàng hoàng khẽ kêu:
-Đường kiếm tuyệt luân!
Giọng ông lão bỗng trầm xuống, xa vắng:
-Đường kiếm tuyệt luân, lược thao gồm tài, nhưng còn số trời!
Tiếng thở dài dứt ngang, ông lão đột nhiên quay lưng bỏ đi. Hán tử ngơ ngác chạy theo:
-Lão trượng! Lão trượng!
Ông lão nhăn mặt quay lại:
-Ta cũng chẳng còn gì để nói.
-Lão trượng không coi vãn bối là tên tội đồ, lại mở lòng cứu giúp, xin lão trượng tha thứ những lời đơn bạc trước kia và rộng lòng cho biết tôn danh. Tuy không phải là kẻ sĩ, nhưng vãn bối cũng biết chịu ơn người không thể quên việc báo đáp.
Ngươi nói gì lăng nhăng đến thế? Mấy chục năm nay làm bạn với hươu nai, hai bên không hề xưng tên họ, lâu ngày ta cũng quên tiệt mất rồi. Nơi ta ở gần đây, nếu ngươi mỏi mệt, cứ tự tiện ghé nằm, còn những điều khác, xin miễn cho ta việc thù tiếp.
Nhà ông lão cách khoảng nhai dập bã trầu, là một lều cỏ hai gian, lưng dựa vào vách đá, tuy nhỏ hẹp, nhưng bên trong giản dị, trang nhã, giữa nhà kê một chiếc án mây đan, bên cạnh trải rộng manh chiếu trúc. Hán tử lơ đãng nhìn quanh, chợt chú ý tới một bức thủy mặc treo bên khung cửa, nét bút tung hoành bay lượn mạnh mẽ, vẽ cảnh núi non trùng điệp quay ra hướng đại dương. Hán tử liếc nhanh mấy dòng lạc khoản, chợt sửng sốt kêu lên:
-Sao lại có mấy vần Nôm? Mà cái gì Hồng Lĩnh. Hồng Lĩnh phải chăng là một giải non cao đất Việt? Như vậy lão trượng là…
-Là người đất Việt đã hẳn…
-Hóa ra lão trượng là người đất Việt, cùng quê với vãn bối rồi.
-Cùng quê với ngươi sao? Chao ôi! Ngàn dặm đất khách, không ngờ gặp người đồng chủng. Thiên lý tha hương, đây âu cũng là một cuộc kỳ ngộ. Hà… Hà.. Hôm nay ta muốn uống cực say, chẳng hay ngươi có sẵn lòng cùng ta cạn chén?
-Gì chứ rượu thì vãn bối không dám từ, tuy không bằng Lưu Linh, Lý Bạch, nhưng trong vòng ba chục đấu, vãn bối tin rằng vẫn có thể hầu tiếp được.
Lúc ấy, trăng thượng tuần vừa lên, cả người lẫn trăng đều chếnh choáng hơi men. Hán tử uống cạn một hơi, rồi búng tay vào miệng chén lớn, mắt thật xa xăm, giọng vô cùng cảm khái:
-Vãn bối họ Từ, tên Hải, nửa đời vùng vẫy chốn biên thùy, mới đây, triều đình lùng bắt, thế cô, phải bỏ xứ tìm đường tháo thân. Tới miền Phúc Châu, vì nổi máu bất bình, đánh chết bọn sai nha, nên mắc vòng lao lý. Lão trượng, lúc nãy nghe mấy lời cảm khái, chắc hẳn lão trượng cũng có một tâm sự đa đoan?
-Tâm sự ta ư? Dằng dặc! Mà này, đất trời chẳng hẹp lắm sao, bày ra một cuộc tao ngộ. Ta đây mấy chục năm quê người, chao ôi là thương nhớ, bỗng dưng hôm nay gặp được người cố quận, khoái chí biết bao, sẵn có cuộc rượu đã bày và trăng trời làm chứng, ta muốn cùng ngươi kết nghĩa kim lan. Này Từ đệ! Nên chăng?
Hải cũng hứng chí cả cười:
-Cung kính không bằng tuân mệnh. Hải này đâu dám làm cụt hứng lão ca.
Hai người cùng cắn ngón trỏ, nhỏ máu vào chung rượu, rồi chia nhau cùng uống.
-Chẳng giấu gì lão đệ, ta vốn họ Nguyễn, dòng dõi nối đời văn học, mấy chục năm trước ở quê nhà, ta cũng lạm giữ một chức triều quan. Sau vì cảnh nhiễu nhương, chủ cũ mất nghiệp, ta xướng nghĩa cần vương, mấy năm tung hoành thỏa chí. Nhưng số trời đã định, lấy sức người cưỡng chống cũng không xong, ta bỏ về Hồng Lĩnh ẩn cư, làm tên liệp hộ trốn đời. Oái oăm thay, cây muốn yên mà gió chẳng cho, tân triều mấy phen lục dụng, vui gì cái thân hàng thần lơ láo, tra bưng tai, nhắm mắt, giả ngây, giả dại, cuối cùng phải thác bệnh, vờ chết, trốn thóat lấy thân. Mấy chục năm quê người rồi còn gì, mái tóc đã cằn, mà tráng chí cơ hồ cũng cạn.
Giọng nói âm trầm, càng về sau càng xa vắng mênh mông, hầu như mất hút trong tiếng thở dài. Hải lắng nghe, ngùi ngùi cảm động.
-Này Từ đệ, trong huyết quản của ta, đã có dòng máu của lão đê, mà trong huyết quản của lão đệ cũng có dòng máu của ta. Ta nay gần đất xa trời, bao nhiêu tâm nguyện của ta ký thác cả vào tay lão đệ đó.
Ông lão họ Nguyễn gỡ múi lụa, tháo thanh gươm sau lưng, trang trọng đưa ngang:
-Đây là thanh gươm báu, chém sắt như bùn, từ khi còn ở quê nhà, đã cùng ta liền tay ngang dọc. Gươm báu không thể làm bạn với kẻ dật dân, ta tặng ngươi gọi là ghi lại chút tình tri ngộ hôm nay.
Hải khẳng khái lĩnh nhận:
-Mưu đồ việc vương bá, Hải này tự lượng tài hèn, không dám đương việc lớn, còn như giữa khoảng trời đất, vung gươm trừ bạo, dẹp tan bất bình, Hải này tin rằng không đến nỗi để nhục mệnh Nguyễn ca.
-Hảo nam tử! Còn đây là bộ lược thao. Cậy ở gươm báu, cánh tay chỉ là cái dũng của đứa thất phu. Đấng nam nhi lên ngựa lấy đầu tướng giặc, xuống đất vỗ an trăm dân, lão đệ nên muôn vàn thận trọng. Ta tuy ở chốn núi rừng, vẫn chống mắt chờ tin lão đệ.
-Ơn tái tạo khó quên. Kẻ sĩ có thể vì tri kỷ mà chết. Với lời tâm huyết của lão ca, đệ nguyện từ nay lột xác để trở thành người mới. Ngày mai xuống núi, trong vòng hai năm là nhiều, sẽ có lúc đệ trở về đây quấy quả lão ca mấy chén thanh mai.
Tới đây cả hai đều yên lặng, không thêm một lời. Bình rượu cạn dần, tửu lượng của Hải rất hào, càng uống càng sảng khóai, mà hào khí ngùn ngụt bốc cao. Ánh trăng thượng tuần chếnh choáng hắt vào chỗ hai người đối ẩm. Ông lão họ Nguyễn chống tay xuống án, trìu mến nhìn Hải, nửa như hân hoan, mà nửa lại có chiều xót xa lo lắng. Hải cũng ngồi như pho tượng, vẻ mặt vô cùng trang trọng, còn đôi mắt vời vợi đăm chiêu.
Sáng mai Hải sẽ xuống núi. Hải đi, vô tình mang theo một nửa tâm hồn của người ở lại.
-0-
Bọn lãng tử phàm đã đặt chân đến Châu Thai đều biết tiếng Kiều nương. Nàng nổi tiếng về ba thứ: nhan sắc kiều mị, thi tài điêu trác và ngón đàn tuyệt luân. Các tay khoa giáp xuất thân cùng nàng xướng họa, nhiều khi cũng phải lắc đầu, lè lưỡi. Về đàn không lọai nào nàng không thành thạo, nhưng xứng tay dường như chỉ có đàn Tỳ. Tuy nhiên đãi ngộ bọn tục nhân, nàng thường viện lý này, lẽ nọ, không chịu sử dụng ngón đàn, vì tiền bạc chỉ mua được thân xác, chứ nào mua nổi tâm hồn đã phổ cả vào niềm u uất của bốn dây…
Một buổi sáng đầu thu, trong ngọn gió heo may, chợt vẳng tiếng đàn Tỳ, gió mang theo khí lạnh trời Bắc, mang theo cả cái giá băng của lòng người quyện lẫn tiếng đàn. Tú tài họ Từ chợt dừng bước lắng nghe, không phải khúc Hành vân, Lưu thủy, không phải khúc Dương xuân Bạch tuyết, cũng không phải khúc Chiêu Quân cống Hồ. Một người sành điệu như tú tài Từ Văn Trường cũng đành bất lực, không thể tìm biết do lai. Khúc đàn thật lạ, nhưng ý đàn lại quen, hình như nỗi buồn ly biệt, hình như nỗi buồn tan vỡ, hình như nỗi buồn mệnh bạc, đúng ra là nỗi buồn trọn kiếp lênh đênh góp lại mà thành. Những kẻ lưu lạc chợt gặp lại lòng mình trong tiếng đàn đứt nối.
Tiếng đàn dứt một hồi, Văn Trường mới bàng hoàng, chợt tỉnh, thầm nghĩ: khách hẳn phải là một tay lạc phách giang hồ, mới được nàng Kiều thành tâm bồi tiếp. Tiếng đàn vừa rồi há chẳng phải những lời tâm sự thốt tự đáy lòng thầm kín đó sao?
Văn Trường vào quán, kêu tửu bảo hâm rượu, rồi lẳng lặng ngồi chờ. Trường muốn biết ai là người được Kiều nương biệt nhãn. Trường chờ đợi không phải chỉ vì hiếu kỳ, mà còn vì lý do riêng, nên chờ đợi tuy lâu, Trường không hề nản chí. Quả nhiên từ kỹ viện bước ra một hán tử trung niên, hán tử có dáng sừng sững, nghênh ngang của một cây tùng chịu quen nắng gió. Hán tử cũng họ Từ, tên Hải. Văn Trường lân la bước tới. Sau một chặng đường, câu chuyện bỗng trở thành tương đắc, cả hai cùng nắm tay bước vào lầu rượu.
-Sáng nay nghe tiếng đàn của Kiều nương, đệ biết ngay nàng đã gặp người tri kỷ. Ừ, mà quả nhiên nàng có mắt tinh đời.
Nghe lời khen khéo léo, Hải không khỏi mỉm cười bâng quơ:
-Nói vậy, hẳn huynh ông cũng là chỗ quen thuộc với nàng?
-Quen thì có quen, nhưng đệ chỉ là tên tú tài mạt hạng, đâu dám mong được nàng thành tâm bồi tiếp, huynh ông thật có diễm phúc hơn người.
-Đâu dám, huynh ông quá khiêm, cứ dáng dấp của huynh ông, hẳn cũng là một văn nhân, tài tử.
-Chao ơi! Chữ nghĩa mà chi, sinh chẳng nhằm thời, đệ chỉ còn biết sớm tối lân la chốn lầu xanh, để mua lấy tiếng mười năm bạc hạnh.
Nghe lời cảm khái, Hải không khỏi bùi ngùi:
-Thời buổi này ai chẳng có điều phẫn chí. Này huynh ông, ta mượn mấy chén đưa cay, há chẳng hơn sao?
Tú tài Từ Văn Trường trừng mắt, bỗng bật cười thành tiếng, tiếng cười chua chát, nứt rạn, rồi nửa như nói thầm mà nửa cũng như muốn người khác cùng nghe:
-Té ra nàng lầm, mà ta cũng lầm, thật uổng công chờ đợi!
-Huynh ông lầm gì?
-Thôi việc ấy chẳng liên quan gì đến huynh ông, chớ nên bận lòng, cuộc rượu đã tàn, ta chia tay là vừa.
Hải cười sang sảng, kéo tay Từ Văn Trường lại:
-Hiểu rồi, đệ hiểu rồi, huynh ông lầm vì thấy đệ chẳng qua chỉ là con rùa rụt cổ, không thể cùng ông mưu sự chứ gì? Ngày tháng còn dài, hôm nay gặp nhau, ta hãy cứ lấy rượu làm vui.
Lúc đó Văn Trường mới dịu mặt ngồi xuống.
-Đệ thật hàm hồ, huynh ông đừng giận.
-Giận sao được, rồi đây dăm bữa, nửa tháng, thế nào cũng có bữa đệ tới tìm ông, cùng đi một chuyến. Hiện nay, chẳng nói giấu, đệ còn vướng món nợ phong lưu với nàng Kiều, chưa thể rũ áo ra được.
Cuộc rượu hầu tàn, lại được sắp lại từ đầu.
-0-
Cái hẹn dăm bữa nửa tháng đã thành sự thật, thế nên suốt dọc biển Đông, chỗ nào cũng rộn rịp thuyền bè. Nhưng thuyền bè không còn chở những người đánh cá thập cổ, bé miệng, luôn luôn chịu lép một bề, thuyền bè lúc này chở toàn bọn Nuy khấu mà những phẫn uất dồn nén đã có dịp nổ tung, những phẫn uất nối dài tay chèo cho con thuyền vùn vụt lướt sóng. Thuyền bè vùn vụt từ vùng biển cả tiến sâu vào dòng Dương Tử, rồi vó ngựa lại nối chân, đưa bọn giặc lùn ào ào tiến chiếm đất liền. Suốt một vùng Giang Hán mùa xuân cỏ không kịp mọc vì vó ngựa trường chinh. Đâu đâu cũng vang dội tiếng tăm của đoàn quân bách thắng. Đoàn quân không biết gọi bằng gì cho phải, triều đình gọi là giặc, nhưng với dân chúng lại là cứu tinh. Những nơi đoàn quân đã qua, dân dậy lên một niềm phấn khởi, những nơi đoàn quân chưa đến, dân ngửa cổ trông chờ.
Một buổi chiều sắp tắt, đoàn quân tiến qua miền đồi núi. Viên tướng dẫn đầu hạ lệnh đóng quân, rồi xuống ngựa, cởi bỏ giáp bào, một mình chống gươm tìm đường lên núi. Trong lớp áo vải thô, viên tướng bách thắng nghiễm nhiên trở lại nguyên dáng điệu một tay lãng tử giang hồ. Lên tới đầu non, người khách giang hồ dừng lại, hít một ngụm hơi lớn và chợt nhận ra bóng dáng một ông lão, lãng đãng trong vùng ánh trăng bàng bạc hơi sương. Râu tóc ông lão lồng lộng bay theo chiều gió, hai tay giang rộng đón kẻ trở về. Kẻ trở về đột nhiên như tìm lại được niềm hân hoan thanh bạch đã mất:
-Cái ước hẹn hai năm đã đến, đệ trở về đây quấy quả lão ca mấy chén thanh mai.
Ông lão cười vang:
-Ta nghe trong gió đồng vọng tiếng nhạc rung, ngựa hí, cùng bước chân của muôn vạn tin binh, chẳng hay cơ đội nào đó Từ đệ?
-Chẳng giấu gì lão huynh, đó là ba quân dưới trướng của Hải này, cũng nhờ lời dạy bảo của lão huynh mà có. Sợ làm kinh động cuộc rượu của lão huynh, đệ đã cho hạ trại dưới lũng, rồi mới thay đổi y phục, chống gươm lên núi, ra mắt cố nhân.
Cuộc rượu được bày ra, vẫn ánh trăng chếnh choáng năm nào, vẫn hai người đối ẩm, vẫn áo vải giang hồ, nhưng sắc diện Hải đã có đôi phần thay đổi. Mái tóc Hải trước kia thật xanh, nay đã lấm tấm điểm bạc, còn vầng trán nay đã hằn sâu vô số ưu tư. Và lạ thay, đôi mắt sáng của Hải lẽ ra phải rừng rực tươi vui, đôi lúc lại thoáng gợn nét buồn. Nhìn người xưa đối diện, giọng Hải chợt đượm bùi ngùi:
-Hai năm qua, Nguyễn huynh tinh thần vẫn tráng kiện như xưa, thế mà đệ lại thay đổi quá nhiều. Nếu không trở về đây, có lẽ đệ sẽ tin răng niềm vui vô tư của mình thực sự đã mất. Nguyễn huynh ơi! Xem chừng đệ mệt mỏi mất rồi.
Hải nhìn quanh:
-Không khí ở đây thanh tịnh quá.
Như thông cảm tâm sự của Hải, ông lão họ Nguyễn vội xoay chiều câu chuyện:
-Trong hai năm trời, chắc hẳn đệ đã sống nhiều ngày hào hứng, mong đệ kể lại cho ta cùng góp phần vui.
-Vâng quả là nhiều chuyện, đệ xin thuật lại từ đầu. Sau khi xuống núi chừng hai tháng, nghe tin Minh triều bãi bỏ việc kiểm soát thương thuyền, đệ bèn nhân cơ hội đó, kết hợp bọn vong mạng miền biển dấy lên, mưu chiếm một vùng duyên hải.
Câu chuyện như hâm lại bầu máu nóng, làm đôi mắt của Hải càng lúc càng sáng rực, Hải tiếp say sưa:
-Chao ơi là sảng khoái! Một hôm đệ nốc rượu, rồi xách gươm cùng bọn vong mạng vượt hào đánh phá Phúc Châu, đốt kho lẫm, phá nhà ngục. Đệ xông vào tận phủ đường, bắt được gã phủ quan dưới gầm trường kỷ, té ra là gã phủ quan đã giam giữ đệ trước kia. Mọi người nằng nặc xin giết, riêng đệ nghĩ, giết một tên bị thịt cũng chẳng làm gì, nên chỉ nọc ra đích thân đánh đủ trăm hèo, rồi sai thích chữ vào mặt. Đệ bắt hắn dỏng tai: Lũ bay giết thì bẩn gươm, mà để lại bẩn mắt. Trước kia với Minh triều, ta là một tên phản nghịch, nay dưới trướng cô gia, ngươi lại là một gã tội đồ. Nghịch tặc hay đế vương, ranh giới chẳng qua là hai chữ thành bại. Minh triều sắp đến hồi mạt vận, mới dung túng bọn quan lại heo chó các ngươi. Nay nếu ta giết ngươi, há chẳng phải là làm phúc cho Minh triều đó sao?
Câu chuyện của Hải bắt từ chiến thắng này sang chiến thắng nọ. Nhưng lạ thay, những chiến thắng kể hết, cái hào khí của Hải hầu như cũng vụt tắt theo. Mặt Hải trở lại âm trầm, và Hải ngồi trong tư thế bất động. Lão họ Nguyễn thở dài:
-Tóc Từ đệ điểm bạc, chắc hẳn có nhiều ưu tư khó bề giải quyết.
Hải cũng thở dài, đôi mắt chợt xa xôi, tinh thần dường như ngưng đọng ở một nơi chẳng còn liên quan gì đến hiện tại. Một lúc sau Hải mới giật mình, nói qua cơn bàng hoàng:
-Lão huynh đoán không sai, đệ mang tâm trạng của một người lạc lõng, tự giam mình trong bốn bức tường do chính mình dựng lên.
-Ta thật không hiểu đệ muốn nói gì?
Hải đáp từng tiếng chậm rãi:
-Nay quyền bính trong tay, một tiếng nói có thể làm vạn người run sợ, nhưng chính lúc này đệ lại cảm thấy cô đơn, xa cách hẳn mọi người. Kẻ tả hữu đến với đệ toàn bằng những tình cảm giả dối, những lời nịnh bợ ngoài môi. Đệ hiểu mà không thể làm gì khác. Hiện nay bọn tả hữu đều khuyên đệ tiếm xưng vương hiệu.
Ông lão họ Nguyễn nói đùa:
-Vậy trong hai hàng tả hữu, chẳng hay đệ định dành chức gì cho cố nhân?
Hải cười:
-Đâu dám, chức tước chỉ có thể trói buộc bọn tục nhân cùng mình sống chết, đâu dám đem làm bẩn chí lão huynh. Huynh thấy không, hai năm trời xa cách, trở về chốn cũ, đệ vẫn chỉ là tên áo vải giang hồ.
-Hào thay! Một lời soi thấu lòng tri kỷ. Vậy về việc xưng vương hiệu, đệ có ý kiến gì?
-Đệ thật khó nghĩ. Bọn thuộc hạ ngoài miệng chúng nói xưng vương để khích lòng ba quân, nhưng thực sự, trong bụng chúng chỉ ham mê chức tước, bổng lộc. Chức tước mê hoặc lòng người, cái gương thối nát của bọn quan lại Minh triều còn sờ sờ trước mắt, nếu đệ có lập được một triều đình mới, cuối cùng cũng chẳng tránh được vết xe đổ trước kia. Bọn tả hữu của đệ, tài thì có, mà đức độ thì không. Hơn nữa, nay đệ mới thấy, chốn quyền môn thật chẳng phải nơi mình có thể dung thân, còn nói chi tới việc gối cao mà nằm. Đệ như kẻ đang cưỡi trên lưng cọp.
Hải trầm ngâm một lát, rồi tiếp:
-Trên đời này, hiểu đệ ngoài lão huynh, may ra chỉ còn một người.
-Người đó là ai vậy Từ đệ?
-Là một người con gái lầu xanh, nhưng tâm hồn thực đã vượt khỏi thói thường nhân thế. Nàng đã nhận ra con người thật của đệ lúc còn phong trần, và đối xử với đệ còn trang trọng gấp mười bọn vương tôn. Mỗi khi nghe tiếng đàn của nàng, lòng đệ cũng nguôi được đôi phần phẫn hận.
-Ta thành thật mừng cho Từ đệ. Tấm lòng tri kỷ còn ấm hơn nắng mùa xuân, có thể làm dịu lại chuỗi ngày sắt máu. Chúng ta vào sinh ra tử, nhưng sắt máu chẳng phải ý nghĩa cuộc đời- ông lão cười- Thế bao giờ Từ đệ mới cho ta gặp mặt em dâu?
-Lúc lên đường, đệ đã dặn nàng chờ ở Châu Thai. Dịp này đệ sẽ ghé đón nàng về doanh trại, rồi thế nào cũng có lúc đệ đưa nàng lên đây ra mắt lão huynh. Huynh thấy không, dù đi khắp gầm trời, lúc nào đệ cũng nhớ đến lão huynh với mấy chén thanh mai, nhất là không khí thanh tịnh nơi này.
Ông lão cười bao dung:
-Cuộc rượu lúc nào ta cũng sẵn sàng đón khách, nhưng còn việc quân cơ? Ta e binh sĩ khó vắng chủ tướng một ngày.
-Điều đó không khó, dưới trướng của đệ hiện còn một tên bộ tướng tâm phúc, dáng dấp mười phần giống đệ hết bảy, chỉ cần cải dạng đôi chút là có thể thay thế đệ trông nom công việc. Lão huynh, lòng đệ đôi lúc chán nản, chỉ muốn được gói kiếm, cùng lão huynh sống đời ẩn dật.
Lúc đó từ xa chợt đồng vọng tiếng chuông chùa, tiếng chuông ngân nga, u trầm bay theo chiều gió. Hải thấy tâm hồn mình dìu dịu, chìm sâu vào cõi hư vô. Cứ thế, trăng tàn dần, tàn dần...
-0-
Ưu thế của Hải mỗi ngày một vang dội, mấy tỉnh miền Nam lần lượt lọt vào tay Hải, Hải đã tạo riêng một cõi sơn hà. Quân triều đình nhiều phen được gửi tới, đều phải cắm cổ chạy về, mười phần chỉ còn hai ba. Năm Gia Tĩnh thứ 35, Hải chọn bộ tướng Trần Đồng, Ma Diệp vây hãm thành Đông Hưng. Triều đình hoảng sợ, vội vàng triệu Hồ Tôn Hiến, tổng đốc Chiết Giang cử đại binh đánh dẹp. Hồ là tay cơ trí xảo quyệt, đụng Từ mấy trận, biết không thể dụng lực đối phó, bèn cho hạ trại, đào hào cố thủ thành trì, rồi sai hai biện sĩ là La Long Vân cùng Hoa Lão nhân đi làm thuyết khách. Long Vân vốn là bạn cũ của Hải lúc còn phiêu bạt, họ La nay lại mặc áo mũ hào hiệp như xưa, tìm đến dinh Từ Hải. Hải thân ra tận cửa dinh đón tiếp, mời vào trong trướng cùng ngồi. Long Vân liền đem những điều lợi hại thuyết phục, nhưng mới mở lời, Hải đã cau mặt nói sang chuyện khác. Một tay làm chủ ba quân, nhiều khi Hải còn không ham, há lại ham gì cái thân hàng tướng. Tuy nhiên họ La vẫn không nản chí, nán ở lại tư dinh Hải mấy hôm. Trước mặt Hải, họ La tuyệt không nói tới chuyện chiêu hàng, chỉ cùng Hải uống rượu, đánh cờ làm vui, nhưng sau lưng Hải, Long Vân ngấm ngầm tung tiền mua chuộc bọn tả hữu, lại dùng hậu lễ ra mắt nàng Kiều. Tướng của Hải vốn chẳng phải bọn nuôi chí lớn, nay được vàng bạc, lại được hứa hẹn chức tước, nên phần lớn ngoài mặt còn nói cứng vì sợ Hải, nhưng trong lòng đã có ý quy hàng. Còn nàng Kiều cũng chẳng qua khỏi thói thường tình nhi nữ. Nàng không muốn thấy Hải mãi mãi xông pha trận mạc. Chiến tranh đã tạo ra những thiếu phụ nửa đời goá bụa, nàng không muốn mất nốt nơi nương tựa cuối cùng, vì đời nàng chìm nổi, đã trải qua quá nhiều đau thương. Kiều vô cùng mỏi mệt, vô cùng chán nản, nàng sẵn sàng khuyên Hải ra hàng, chấm dứt chuỗi ngày hào hùng mà bấp bênh. Thế là lưới đã bủa xong, Long Vân từ giã lên đường. Trước khi chia tay, họ La không quên cầm tay Hải, một lần nữa ân cần trình bày lợi hại. Lúc này Hải không khỏi thấy lòng mình xao động đôi phần...
-0-
Một buổi tối đầu thu, gió vừa heo may chớm lạnh, Hải đuổi hết tả hữu, một mình trầm ngâm bên án. Ánh trăng thượng tuần xuyên qua kẽ lá, chiếu từng vệt lốm đốm trên tường. Ánh trăng nhắc Hải nhớ đến người bạn già kết nghĩa, nhớ đến những cuộc rượu kéo dài tưởng mãi không thôi. Ánh trăng khiến Hải muốn vứt bỏ lớp áo bào nặng trĩu, rũ sạch mọi ưu tư, tìm về bầu không khí thanh tịnh, có tiếng chuông chùa u trầm theo gió ngân nga. Hải nhớ vô cùng chuỗi ngày tháng vô tư đã mất. Đang ngồi thừ bất động, Hải chợt bàng hoàng vì tiếng đàn theo gió vọng sang, tiếng đàn nghẹn ngào, đứt nối. Nếu Hải nhớ không lầm, đây chính là khúc Bạc mệnh Kiều đã gảy trong cuộc tao ngộ đầu tiên. Tiếng đàn ấp ủ nỗi đau của một đời lênh đênh phiêu bạt. Khúc Bạc mệnh này kể từ ngày gặp lại, Kiều không hề gảy tới, mỗi khi hỏi, Kiều không đáp, chỉ mỉm cười bâng quơ. Hôm nay, trong thoáng gió đầu thu, nghe lại khúc đàn, Hải cảm thấy mình cũng gai gai, chớm lạnh và lòng xao xuyến, bâng khuâng. Khúc đàn phả vào bốn dây cả một tâm tư u uất. Hải chợt hiểu và thương Kiều vô cùng, vô tận. Tiếng đàn dứt, Hải như tỉnh cơn mê, liền đi tìm nghiên bút, âm thầm mài mực, rồi cúi đầu thảo bức hàng thư. Nhưng mới viết được vài hàng, Hải bỗng cảm thấy tâm hồn dao động mãnh liệt, hầu như không còn làm chủ được ngọn bút, ngọn bút vô tri tối nay dường có vẻ nặng hơn. Các thớ thịt trên mặt tự động máy giựt liên hồi. Đầu óc quay cuồng, choáng váng, Hải lấy tay bưng mặt, rồi gục đầu xuống án. Tai Hải lùng bùng, cơ hồ có hàng vạn âm thanh xao động, những âm thanh đồng vọng từ xa, nhức buốt xoáy vào tim óc “Ôi! Tư Hải, Từ Hải!... Một đời oanh liệt... “ Hải đập mạnh tay xuống bàn, thét lên, rồi giật mình tỉnh dậy. Cùng với tiếng thét của Hải, có tiếng loảng xoảng, đổ vỡ sau lưng. Hải quay lại, một bóng đen kiếm tuốt trần, đang nép mình bên cửa. Hải định thần nhìn kỹ, bóng đen run rẩy từng hồi, thanh kiếm tuột tay rơi xuống, tiếng vang sắc lạnh. Mắt Hải đổ lửa, râu hàm dựng ngược, nét mặt khốc liệt lầm lầm. Hải tiến lại:
-Té ra ngươi.
Hải tiến lại nữa, bỗng nhiên nét mặt đang căng thẳng của Hải từ từ dịu lại, giọng Hải đượm vẻ ảm đạm, thê lương:
-Té ra ngươi cũng bị lợi danh mua chuộc. Ôi bằng hữu! Ta đãi ngươi không bạc. Thôi ta đã hiểu phần nào, phải chăng ngươi muốn giết ta, rồi lợi dụng dáng dấp tương tự, mạo danh ta về với triều đình. Chao ơi! Vinh quang của một tên hàng tướng cũng đủ để ngươi loá mắt nữa sao? Này bằng hữu, ta sẽ giúp ngươi thành toàn tâm nguyện. Ta chẳng còn gì để luyến tiếc...
-0-
Vào mùa hạ, những tửu điếm ven bờ Dương Tử tối nào cũng đông nghẹt. Hơn tháng nay, câu chuyện đầu môi của bọn thực khách chính là cái chết của họ Từ. Cứ theo lời viên lại già thuật lại, Hải bị loạn tiễn thác giữa trận tiền, nhưng xác Hải vẫn cứ sừng sững nghênh ngang, cả chục binh sĩ xúm vào xô cũng không đổ. Mãi đến lúc nàng Kiều chạy đến, nước mắt tuôn ướt đẫm ba lớp chiến bào, xác Hải mới từ từ đổ xuống. Nhắc đến Hải, có kẻ nghiến răng kèn kẹt, nhưng nhiều người lại ngậm ngùi xót thương. Một buổi tối, giữa những âm thanh ồn ào, hỗn độn, ngợp ngụa hơi men, một tiếng nói lạnh nhạt bỗng vang lên, tuy không lớn lắm, nhưng nghe rất rõ:
- Hừ! Họ Từ một đời ngang dọc, há có thể chết trong tay bọn cày, cáo đó sao?
Mọi người dõi mắt về phía phát ra tiềng nói, bên song cửa bàng bạc ánh trăng, một người khách đang ngồi độc ẩm, dáng cao ngạo, lạnh lẽo như sương.
Thực khách có người hằn học:
-Lão tặc họ Từ, trời với người đều giận, chết như thế còn chưa đủ kẻ khác lấy đó làm răn.
-Từ công hay Từ tặc, việc đó ta không cần lý tới, chỉ biết Từ Hải chưa chết, thì ta bảo là chưa chết.
-Từ Hải chưa chết? Vậy còn thây ma giữa trận?
-Thây ma giữa trận chẳng qua chỉ là tên bộ tướng đóng trò. Mới đây trên đỉnh một ngọn cao phong, ta đã cùng Từ luận kiếm, ba ngày không biết mệt.
Viên lại già cười mỉa:
-Cùng Từ luận kiếm, ba ngày không biết mệt! Chao ơi! Cứ khẩu khí này, ắt hẳn các hạ cũng là một tay anh hùng bản sắc. Nhưng khẩu thiệt vô bằng, chẳng hay các hạ có vật gì làm tin, cho bọn kẻ chợ chúng tôi được sáng mắt một phen.
Khách chậm rãi đứng lên, với tay sau lưng, ánh trăng bạc chợt loé lên thành vừng hào quang, trong tay khách một thanh gươm đã được nâng ngang mày. Khách khẽ búng tay vào sống gươm:
-Đây há chẳng phải thanh gươm báu đã cùng Từ liền tay ngang dọc. Từ tặng ta.
Khách ngừng lại rồi ngâm:
Rượu hầu vời, rượu hầu vơi.
Mênh mông đất trích, ai người tri âm.
Thôi ta say nhé cố nhân,
Giấc Hồ hoạ có được gần nhau chăng.
Mười năm chuyện cũ bâng khuâng,
Trời không thương lũ phong trần chúng ta.
Đó chính là bài thơ Từ thường đọc trong những ngày cùng ta luận kiếm.
Nói xong, khách tra gươm vào vỏ, lớn tiếng gọi tửu bảo tính tiền, rồi chẳng thèm nhìn ai, khách lặng lẽ xuống lầu, men theo ánh trăng, ngược dòng Trường Giang mà đi mất hút.
1965
No comments:
Post a Comment