Friday, November 2, 2007

HAY ANH ĐÃ ĐI...


Vũ Lưu Xuân

Cuối cùng ngày ấy cũng đã đến, ngày đứa em gái út của tôi lên xe hoa đi lấy chồng. Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Bởi thế dù cha mẹ còn sống, tôi vẫn ý thức rõ trách nhiệm của người chị cả đối với đàn em, đó là gánh nặng mà tôi bình thản đón nhận như một bổn phận thiêng liêng. 12 năm trước , đứa em trai lớn của tôi lấy vợ. Còn tôi, tôi ngồi đó, bên cha mẹ mỗi tuổi một già, lặng lẽ chứng kiến sáu đứa em còn lại lần lượt ra đi. Nhìn hạnh phúc của chúng, lòng tôi đôi lúc gợn sóng. Tôi tự hỏi “ bao giờ mới tới phiên mình ?” Ý nghĩ thoáng qua như nhát búa đập vào lồng ngực, từng nhát, từng nhát. Nhưng tôi vẫn ngồi đó, trơ trơ, để mặc mọi cơ hội trôi qua, dù tôi chưa một lần lạnh nhạt, dửng dưng với cuộc đời. Những cơ hội càng lúc càng hiếm, như hạt cát nhỏ lọt qua kẽ ngón tay.
Tôi xoa nhẹ một chút phấn hồng lên gò má xanh xao, ít khi trang điểm, tô một chút son đỏ lên đôi môi khô, cẩn thận kẻ một đường chì nâu lên cặp lông mày. Lúc soi gương để rẽ ngôi, tôi giật mình vì thấy trên đỉnh đầu loáng thoáng vài sợi tóc bạc. Nhổ sợi tóc, cầm hai đầu căng ra, mắt tôi chợt hoa lên, dường như có sức mạnh vô hình kéo tôi lún xuống, chới với, chìm sâu. Sợi tóc bạc là lời cảnh báo của số phận nghiệt ngã. Tôi đã 38 tuổi rồi, 38 năm dật dờ với những công việc không tên, để vun vén việc nhà và lo cho đàn em học hành đến nơi đến chốn. 38 năm lần lữa trôi qua, không để lại chút vết tích của tuổi trẻ đam mê. Cảm giác mệt mỏi, suy sụp ập đến. Tôi nhìn thật kỹ tôi trong gương, tôi vội vã xoa một lớp phấn lên những vết chân chim hằn nhẹ ở đuôi mắt. Tôi đó ư ? Khuôn mặt bị nỗi cô đơn biến thành chai cứng, vô hồn. 38 năm, tôi chỉ tồn tại như chiếc bóng vật vờ, nên chưa bao giờ ý thức sự tồn tại của chính mình. Có tiếng mẹ gọi, và tôi vội vã bước ra với nụ cười trên môi, nụ cười rất cần trong ngày vui của cô em út.
Bước vào nhà thờ, nhìn hai chiếc ghế phủ vải trắng tinh của đôi tân hôn còn bỏ trống, tôi bỗng thấy thèm được bước lên, quỳ ở đó, quỳ chung với một người, xin Chúa chúc lành cho thứ tình yêu bình dị, đơn giản. Nhưng anh là ai? Anh là ai trong cuộc đời này ? Ý nghĩ thóang qua làm tôi xấu hổ, máu dồn lên mặt, dồn lên tim, tắc nghẽn, và tôi đứng đó, như kẻ mộng du.
Buổi tối ở nhà, đứa em gái cuối cùng đã theo chồng ra đi, không khí lạnh lẽo, vắng ngắt. Bên mâm cơm, chỉ có hai mái đầu bạc và một cô gái lỡ thì. Mẹ nhìn tôi cười gượng :
- Vậy là xong, con đã lo xong bổn phận của người chị cả.
Hai tiếng “bổn phận “ lọt vào tai, biến thành vị đắng trào lên cổ làm tôi rùng mình. Đôi mắt mẹ xụp xuống sau tiếng thở dài, tiếng thở dài có rất nhiều điều muốn nói, và tôi buông bát, đũa chạy vào phòng. Tôi thèm khóc, thèm vị mặn của nước mắt chảy xuống đôi môi
Rồi ngày tháng lần lữa trôi qua, tẻ nhạt. Cuộc đời bề ngoài phẳng lặng như mặt nước biển tháng ba. Nhưng giữa biển cả mênh mông, tôi chỉ là con thuyền nhỏ bềnh bồng, trôi dạt. Đôi khi lòng tôi tràn ngập cảm giác hoảng sợ. Sợ hiện tại, sợ tương lai. Có đêm, tôi giật mình hét lớn trong cơn mộng dữ :
- Anh ơi ! Cứu em !
Một lần nữa câu hỏi cũ được lập lại “Nhưng anh là ai trong cuộc đòi này ?” Anh không hiện diện vì không có khuôn mặt, không có tên để em gọi thầm. Thế rồi anh đã đến như một tình cờ .
- Anh đó ư ? Có phải anh không ? Hay chỉ là người lữ hành chợt đến rồi chợt đi ? Hay chỉ là hạt cát trôi qua kẽ những ngón tay gầy ?
Chiều hôm ấy trên đường đi bộ từ trường về nhà- tôi là giáo viên cấp một- tôi băng qua đường trong lúc đầu óc miên man suy nghĩ. Một chiếc xe gắn máy đâm thẳng vào người. Tôi có cảm giác nhói buốt rồi ngã vật xuống, nửa tỉnh nửa mê. Một người đàn ông luống cuống chạy lại đỡ tôi dậy. Trong cơn đau, tôi kịp thấy một đôi mắt tròn, hoảng hốt. Hình như người đàn ông ấy theo bố tôi lên nhà thương huyện. Hình như người đàn ông ấy thấp thỏm ngồi chờ tôi chụp X quang. Tôi chỉ hoàn toàn tỉnh táo sau khi bó bột cánh tay phải .
- Cô có đau lắm không ? Tôi rất ân hận .
Và tôi lại chú ý đến đôi mắt to, tròn, không đẹp nhưng cồn cào đam mê, thêm vào đó chút háo hức của đứa trẻ ngơ ngác trước cuộc đời.
- Cô thứ lỗi, lần đầu lên vùng cao nguyên này, buồn quá, mượn xe anh bạn, chạy lung tung, có chút hơi men.
Câu nói lộn xộn, vụng về, đôi mắt ánh lên muôn vàn ân hận.
- Ngoài việc đền bù tiền thuốc, tôi có thể làm gì nữa đây ?
- Thôi anh đừng áy náy, tôi luôn gặp rủi, số tôi vậy mà.
Và số phận đã đưa chúng tôi đi bên nhau trên một đoạn đường, tuy ngắn, nhưng phảng phất hương hoa.
Tôi về nhà với cánh tay đeo lên cổ. Còn anh, anh nán lại Lâm Đồng thêm một tuần nữa, và ngày ngày anh đến thăm tôi, ân cần, săn sóc. Ở người đàn ông ấy có cái gì rất lạ, đôi khi như đứa trẻ thơ giữa tuổi 50, đôi khi lại sâu sắc đến dị kỳ. Tâm hồn anh tràn ngập nỗi si mê và cô đơn. Si mê không được đáp trả nên cô đơn, cô đơn nên mãi mãi si mê đi tìm. Sau vài lần trò chuyện, cách xưng hô giữa chúng tôi không rõ đã thay đổi từ lúc nào. Một lần nhìn lên ảnh Chúa trên bàn thờ, anh trầm ngâm :
- Anh là kẻ ngoại đạo, không có đức tin. Lúc trẻ anh chỉ tin ở khả năng của chính mình. Nhưng sau nhiều lần vấp ngã, anh chợt nhận ra con người nhỏ bé, yếu đuối và hầu như bất lực. Không có chỗ dựa Tôn giáo, anh trở nên đứa trẻ hoang đàng, tự đốt cháy mình .
- Đốt bằng cách nào ?
- Sống buông thả như con ngựa hoang, bất chấp mọi lời khen chê, dị nghị.
- Anh có gia đình không ?
- Có chứ, một vợ, hai con.
- Đó là ước mơ của rất nhiều người. Ngoài Tôn giáo, gia đình chính là chỗ ẩn thân.
- Nhưng với anh, đó không phải chỗ dựa. Giữa gia đình, anh mất hút, giống như kẻ lạc loài trong quán trọ.
- Anh có nhận ra phần lỗi của mình không ?
- Có chứ, nhưng chưa một lần sám hối. Trước mắt gia đình, họ hàng, bạn bè, anh là gã hư hỏng, vứt đi.
Tôi nhìn sâu vào mắt anh, tôi nhận ra nỗi cô đơn đến tuyệt vọng.
- Hư hỏng, vứt đi ? Hình như đó không phải con người thật của anh.
- Vậy ư ? Cám ơn em.
Khuôn mặt anh thoáng bối rối, pha chút xúc động. Tôi hỏi tiếp :
- Nguyên nhân, do đâu vậy ?
Tôi chăm chú chờ nghe. Anh có vẻ do dự rồi thở dài :
- Tất cả bắt đầu từ một chọn lựa sai lầm. Xuất thân trong gia đình nghèo miền quê, lên Sàigòn học, sau khi tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật, anh chấp nhận cuộc hôn nhân với một người con gái không yêu, nhưng giàu.
- Đó chưa hẳn là nguyên nhân bất hạnh.
Đầu anh cúi sâu thêm.
- Vợ chồng anh là hai thái cực. Vợ anh cứng cỏi, lạnh lùng và thực dụng. Còn anh, anh khao khát sự dịu dàng, đằm thắm, chân thành. Cuối cùng, cuộc sống trở thành địa ngục. Vợ anh đòi ly dị, có lẽ đó là giải pháp tốt nhất cho hai người.
- Phải vậy không ? Ly dị chưa phải là giải pháp tối ưu.
Trong đôi mắt to của anh, tôi thấy hiện rõ nỗi dằn vặt, khổ sở.
- Hiền à ! Anh thất bại rồi, chung thân thất bại. Bây giờ anh đã già, mệt mỏi .
Tôi hỏi dò :
- Bao nhiêu mà già ?
- 52 .
Tự nhiên tôi cúi xuống, dùng hai ngón tay vạch chân tóc :
- Em cũng đã có tóc bạc.
- Vậy hả ? Để anh nhổ đến sợi cuối cùng, rồi em sẽ trẻ lại.
Câu nói làm tôi rùng mình. Tôi không phân tích nổi tâm trạng mình khi ấy. Hình như có chút xao xuyến, bâng khuâng, hình như có chút xót xa, hoang mang, sợ hãi. Bên anh, tôi dần dần khám phá ra chính mình, khám phá ra khuôn mặt thật của người con gái đã bị chôn chặt giữa đống sỏi đá của tháng năm. Tôi có vẻ đẹp giản dị, thuần khiết, tôi có một tâm hồn nhạy cảm, mong manh, vị tha và dạt dào yêu thương. Tôi chẳng phải con số không giữa cuộc đời, tôi thực sự hiện hữu như một dấu hỏi để anh tìm lời giải.
Ngày thứ bảy, sau một tuần lưu lại Lâm Đồng, anh ghé tìm tôi. Trời chiều lạnh se se, anh như chiếc bóng lặng lẽ từ cõi sương giăng bước vào.
- Mai anh phải về Sàigòn.
Giọng nói tôi như lạc đi :
- Chi vậy ? Về với vợ con ?
- Ừ, về với vợ con, về dưới mái nhà mà suốt 20 năm, anh bị coi như người khách lạ, thậm chí một tên gác gian để gọi khi cần.
Lúc từ biệt, anh nhìn tôi.
- Mai anh về Sàigòn, buồn không?
Tôi cố lấy giọng lạnh nhạt :
- Buồn chi, hợp tan, đời vậy mà. Thôi chúc anh bình an và trên hết tìm được hạnh phúc gia đình.
Anh lặng đi, hình như có điều muốn nói. Cuối cùng, anh dùng dằng bước ra. Đêm ấy, trời Bảo Lộc lờ mờ trăng và sương, giá lạnh. Tôi tựa cửa nhìn theo bóng anh, tay thọc túi quần, đầu cúi thấp, dáng đi lầm lũi. Con dốc che khuất dần hình ảnh người đàn ông có lúc đã đem lại cho tôi cảm giác tái tê.
- Thôi vĩnh biệt anh.
Chiều chiều, trời se buốt, tôi một mình leo lên đỉnh đồi, nhìn xuống thung lũng trắng xóa hơi sương. Trong nỗi cô đơn tột cùng, tôi chợt nhận ra, cuộc đời không bao giờ là cuốn tiểu thuyết, để tác giả có thể tùy tiện kết thúc sao cho có hậu.
Một buổi tối về nhà, tôi gặp người khách lạ đến tìm.
- Có món quà dành cho cô .
Tôi cố giữ vẻ thản nhiên.
- Quà gì ? Mà của ai vậy ?
- Tôi không nói đâu. Người gửi muốn dành cho cô một sự ngạc nhiên.
Khách quay lưng, tôi chạy vội về phòng. Món quà là bức tượng bán thân bằng thạch cao, khoảng ba tấc.
- Tôi đây ư ? Phải tôi không ?
Cuối cùng anh đã cố giữ lại hình ảnh tôi trong lòng anh, trong cuộc đời. Thiếu nữ trong tượng có cặp mắt đẹp mà buồn, môi hé mở, khuôn mặt hơi ngước lên như đón đợi. Dưới bức tượng có tấm giấy nhỏ.
Hiền thân mến !
Tặng em món quà được thực hiện bằng cả tấm lòng. Kể từ nay, anh sẽ không bao giờ nặn tượng nữa.
Anh
Lá thư ngắn, quá ngắn, nhưng thôi, bức tượng đã nói thay anh ngàn lời.
- Hỡi người yêu dấu ! Ở tuổi 38, với em, thế đã đủ rồi.

No comments: