Tuesday, October 30, 2007

TÌM LẠI CÕI NGƯỜI


Vũ Lưu Xuân


Xóm Đông có một gã đồ gàn, mình gã cao năm thước, da ngăm đen, trán rộng, mày thô mà mắt sáng như sao. Gã tiếp nhân xử thế bằng giọng cười hề hà, dễ dãi. Tuy vậy gã ngoại nhu, nội cương. Tuy không ưa tranh chấp với đời, nhưng lập trường luôn luôn dứt khoát. Gã không chịu theo gió mà giương buồm, lưng gã ngắn nên khó cong, cẳng thấp mà cứng nên không chịu quỳ, đành cam phận đói rách, bởi thế gã mới mang danh đồ gàn.

Cha mất sớm, gã ở với mẹ già. Thuở nhỏ gã nổi tiếng thần đồng. Một hôm theo mẹ về kinh, được mẹ dẫn đi xem lễ xướng danh. Trên đầu voi, tên lính đầu đội nón chóp đỏ, lưng thắt dải điều, chân cuốn xà cạp, gân cổ thét loa, tên xướng cả buổi khắp phố phường, mới thấy thầy cử ung dung, đĩnh đạc rẽ đám đông bước tới, mọi người đều khen ngợi trầm trồ. Gã hỏi mẹ :

- Đậu cử nhân có khó lắm không? Mẹ gã đáp :

- Tuy cũng thập niên đăng hoả, nhưng tài phải trên muôn người.

Gã còn bé mà mỉm cười khinh thị. Lớn lên, gã đọc thiên kinh, vạn quyển, nhưng chí không ở công danh, gã chỉ mong báo hiếu mẹ già. Gã tài cao, tiếng đồn vang tới kinh thành, chân cử nhân, tiến sĩ tưởng chiếm được trong sớm tối, vậy mà ba phen lều chõng, vẫn không kiếm được một chân tú tài, có lẽ cái tâm cuồng phóng của gã không làm vừa ý các khảo quan. "Sĩ khả bách vi" gã xoay đủ trăm nghề, mà nợ áo cơm không phút buông tha. Gã bốc thuốc thì không có người bệnh, thiết trướng được một tháng thì gia chủ kiếm cớ cho thôi. Mẹ gã muốn kiếm dâu hiền để gã an tâm đèn sách, nhưng thời hạ nguyên khó chọn được gái tảo tần. Tuổi ba mươi mà thân chưa lập. Đời gã là một chuỗi dài thất bại, nhưng chưa từng ai thấy gã nhăn mặt thở than. Cuối cùng gã phải ngày ngày vào rừng đốn củi, hoặc gánh nước tưới rau, sáng sáng mang ra chợ bán, mong đổi lấy hai bữa cháo cơm đắp đỗi qua ngày, hắn chỉ thương mẹ già sớm hôm vàng võ. Một năm, nhân ngày lễ hội, gã vác chiếu tới cổng chùa, bói cỏ thì để đoán cát hung, nhưng tiền kiếm được, chỉ đủ để mua cho mẹ già hai chục thang thuốc. Giáp tết, gã tới cửa chợ, trải giấy hồng điều, ngồi viết câu đối, nét bút xương kính, có thủ pháp của một bậc đại hành gia, nhưng tiền kiếm được, cũng chỉ vừa đủ mua chiếc hòm gỗ tạp, chôn cất mẹ già. Mẹ chết sau một cơn bạo bệnh, gã dựng lều cư tang ba năm bên mộ. Tang mãn, gã đốt hết sách vở, không phải gã ngạo thị thánh hiền, mà chỉ dốc chí đoạn tuyệt công danh. Khi ngọn lửa phần thư tắt hẳn, gã quẩy gánh lên đường, lang thang vô định. Gã đi về đâu, gã định làm gì, e rằng trời già cũng không hiểu nổi.


Một buổi chiều, phần đói bụng, phần mệt mỏi rã rời, gã tới gõ cửa một ngôi chùa cổ. Sư già mỉm cười bao dung, mở rộng cổng đón gã vào. Sư già múc cho gã một bát cháo gạo hẩm với chút muối trắng. Cháo nóng, gã húp xì xụp, mình vã mồ hôi mà cảm thấy rất ngon, sinh lực phục hồi. Buổi tối, sau tuần chuyện vãn, biết gã là danh sĩ thất cước, sư già đưa cho gã ba chiếc gối trúc, nước trúc bóng xậm mồ hôi. Sư già giảng giải :

- Ba chiếc gối này không phải vật tầm thường, mà do một đạo sĩ núi La Phù đời Bắc Tống để lại. Chiếc thứ nhất là "Hội chân chẩm", những kẻ thất tình nằm gối này có thể gặp tiên. Thứ nhì là "Trạng nguyên chẩm", kẻ sĩ tam phen lạc đệ, nằm gối này có thể thỏa mộng công hầu. Thứ ba là "Cự phú chẩm" , kẻ bần hàn ngày không đủ hai bữa cháo rau, nằm gối này có thể thấy mình phú gia địch quốc. Mỗi giấc mộng kéo dài được ba mươi năm, từ tráng thời tới lúc vãn niên. Ôi kiếp phù sinh, cõi đời không bằng cõi mộng, há chẳng nên gối mộng mà quên đời. Nhà thầy, hãy thử xem.

Sau hồi tư lự, gã hỏi :

- Xưa nay đã có ai gối đầu nằm mộng rồi chết hay chưa?

- Mô Phật! Việc ấy thật chưa từng xảy ra.

- Bạch cụ, mộng dù ba mươi năm cũng có lúc phải tỉnh, kê vàng tình mộng, kẻ thất tình vẫn mượn rượu giải sầu, hàn sĩ vẫn áo gai, giầy cỏ. Mộng tàn, tất cả đều mất, tiêu ma luôn cả cái tráng chí đối mặt với đời.

Gã sẽ đẩy lui ba chiếc gối, hào khí ngút trời, khẳng khái từ tạ:

- Bạch cụ! cất đi thôi.

Sư già biết gã là người cao khiết, có ý xem trọng, nên lưu gã lại chùa, sớm hôm bầu bạn. Sư già thân gửi cửa không, nhưng ưa kết giao với khách văn chương, thường cùng gã gác tay đàm luận rất là tương đắc.

Chùa rộng, vườn hoang, được phép sư già, gã rẫy cỏ, vỡ đất trồng ngô khoai, bầu bí, lại thêm mấy liếp rau xanh. Từ đó vui cảnh đời đạm bạc, trưa chiều ba chén cơm hẩm, sáng ra uống một bát nước trà tươi đặc, để chiêm nghiệm cái cồn cào sau một đêm bụng đói. Đêm đến, gã bắc chõng tre bên cội mai già, đầu gối lên khúc cây, nằm ngửa mà ngắm trời. Gã rất yêu trăng, nhưng lại khó tính, gã ghét những gì viên mãn tròn đầy, trăng mười lăm, mười sáu quá sáng, gã ví như người con gái đẹp mà kiêu. Những đêm trăng tròn, gã nằm sấp, úp mặt mà ngủ. Gã cũng ghét trăng thượng huyền, gã ví như hạng liễu ngõ, hoa tường, trời chưa kịp tối đã vội mọc. Gã chỉ yêu trăng hạ huyền. Trăng hạ huyền bắt gã nằm chờ, có khi tới nửa đêm, trăng như lá lúa mới dịu dàng nhô lên đầu ngọc trúc. Sương rơi càng nhiều, trăng hạ huyền càng đẹp, cái đẹp mung lung, hư huyễn.

Một buổi tối, gã nằm khoèo đợi trăng rồi thiếp ngủ. Trong mộng, gã lại thấy mình lang thang vô định, quán gió, lều trăng, chân tuy mỏi, mà lòng không chán vẻ đẹp của đất trời. Một hôm gã ngược dòng suối trong, vượt lên thượng nguồn. Gã leo lên một mỏm đá nghỉ chân, mắt lơ đãng nhìn trời, ngắm đất. Gã chợt nhận ra dòng suối này thật lạ. Một dòng nước trong, đôi bờ khác biệt, bên này rừng hoang còi cọc, cảnh vật tiêu điều. Bên kia là rừng đào bát ngát, thoang thoảng hương bay, thấp thoáng sau dãy rừng là đình tạ trùng trùng, mái ngói cong, xanh biếc như mầu ngọc lưu li. Gã ngạc nhiên chưa dứt, bỗng thấy xa xa thấp thoáng một bóng người, đó là một ông lão trạc sáu mươi, đầu đội nón mê, thân khoác áo lá, tay vác cần câu, nét mặt lão hân hoan như đứa trẻ thơ. Thấy gã, ông lão nửa ngạc nhiên, nửa mừng rỡ :

- Ôi huynh ông từ đâu tới, chắc là khách đường xa? Nơi đây hai mươi năm chưa từng có người lai vãng.

- Thưa cụ, tôi là gã hành cước bốn phương, dừng chân vì cảnh lạ, không ngờ lại làm phiền đến cụ.

- Phiền gì. Hai mươi năm mới gặp lại người đời, mừng còn chưa hết. Lại đây, lại đây với lão.

Ông lão dẫn gã về một gian lều cỏ, đẩy cổng bước vào, lớn tiếng gọi :

- Lão Nguyễn đâu rồi, hôm nay may thật, đã câu được hai con chép vàng, lại gặp khách qúy, lão mau ra đây giúp ta, làm bữa gỏi cá nhắm rượu.

Cuộc rượu được bày bên bờ suối. Gã nghiêm trang hỏi :

- Hai vị thân gửi rừng sâu, chí ở núi cao, chắc hẳn cũng là bậc danh sĩ trốn đời.

Ông lão cười ha hả :

- Danh sĩ gì bọn ta, ta với lão Nguyễn đây là lũ dân chài, đọc chưa xong cuốn kinh ba chữ, nhớ chưa nổi tên bẩy vị tiên hiền. Tấm thân lưu lạc tới đây cũng vì một cuộc vui dang dở. Huynh ông có từng nghe ai nhắc tới Lưu Thần, Nguyễn Triệu chưa? Là hai ta đó.

Gã ngạc nhiên :

- Hai vị là Lưu Thần, Nguyễn Triệu sao? Thuở nhỏ tôi ưa đọc ngoại thư, cũng được biết qua kỳ tích của hai vị.

- Chuyện của hai ta, người đời vẽ rắn thêm chân, lại hoàn toàn thuật sai về chung cuộc. Này huynh ông, tháng này là cuối hạ, mà bên kia đào nở bạt ngàn, huynh ông thấy có lạ không? Chính là cõi Đào Nguyên đó.

Lão họ Lưu chỉ dòng suối:

- Đây là ranh giới giữa đôi bờ mộng thực. Bên này giá buốt, đá sỏi khô cằn, muốn tồn tại phải đổi bát mồ hôi lấy bát cơm. Bên kia là cõi Đào Nguyên, con người không phải lao lực, mà ba ngày một tiểu yến, năm ngày một đại yến, người đẹp lớp lớp như mây. Hai ta đã vượt qua ngọn suối này, lạc vào chốn Đào Nguyên, ba năm sau, chợt nhớ mùi đất mẹ, lại lội suối trở về.

Thế rồi từng lời chậm rãi, lão kể lại chuyện xưa:

- Trước kia, ta với lão Nguyễn vốn là bạn chài, cảnh nhà thanh bạch, hai ta đều còn mẹ già, lại thêm thê tróc, tử phọc, nhưng tính vốn thích ngao du. Một hôm hứng rượu, cứ theo dòng suối mà đi mãi tới thượng nguồn. Ngang tới vùng này, chợt thấy rừng đào đẹp, trái đào thơm, liền hăm hở lội qua dòng suối tiến vào, ai ngờ kẻ tục mà lạc tới Đào Nguyên. Người tiên vốn hiếu khách, gặp kẻ tục không chút tị hiềm, ân cần đón tiếp. Đào Nguyên cảnh như tranh vẽ, đào hồng, lựu thắm, liễu xanh xanh, khắp nơi gác tiá lầu son, vang lừng nhã nhạc. Hai ta lưu lại cõi tiên, làm cuộc đổi đời, từ một gã dân chài chân đất, áo thô, cơm ăn chỉ có tôm cá, nhà ở sang lắm là vách đất ba gian, gối tre, giường gỗ, phút chốc áo lụa xênh xang, nằm giường thất bảo, ở điện lưu li, ta với lão Nguyễn như lạc vào cõi mộng, quên cả quê nhà, quên cả công ơn mẹ hiền một nắng hai sương, nuôi con khôn lớn; quên cả người vợ tào khang, thịt da khét nắng, bắt ốc mò cua; quên cả những đứa con bụng ỏng, đít eo, mũi rãi lòng thòng. Để chúng ta quyết tâm đoạn tuyệt qúa khứ, bà Tây Vương mẫu quản cố Đào Nguyên đã gả cho ta và lão Nguyễn hai cô gái nhà trời. Vợ chúng ta ư ? Lũ ta thô lậu, không đủ lời mà diễn tả vẻ đẹp. Hôn lễ tưng bừng, khách tiên ba mươi sáu động đều đến chung vui. Yến tiệc ròng rã ba ngày, rượu quỳnh tương màu hổ phách tuôn như suối chảy, uống vào ngọt lịm, không có vị cháy cổ như rượu trắng quê nhà. Trong đêm hợp cẩn, vợ ta nâng chén giao bôi, nhìn ta nửa phần e thẹn, nửa phần băn khoăn:

- Mối tình tiên tục của đôi ta không biết kéo dài được bao lâu? Cõi tiên không có răng long đầu bạc, nhưng tình người tiên cũng không kém thủy chung. Chỉ sợ hương lửa đang nồng, trạnh niềm cố quận, chàng lại bỏ thiếp bơ vơ.

Ta cảm động cầm tay vợ rưng rưng:

- Ta nửa đời cơ khổ, sớm đốn củi, chiều buông câu, ngày ngày vỡ đất khai hoang, lực đã tận mà miếng ăn chằng đủ. Nay gặp cuộc đổi đời, há còn mơ gì cảnh cũ. Ta xin thề với trời đất...

Ta chưa kịp dứt câu thì nàng đã chận lại :

- Chàng không phải thề, hai ta sống với nhau bằng cõi lòng, không bằng lời nói.

Từ đó ta với lão Nguyễn sống ở cảnh tiên, ngày tháng tiêu dao, an nhàn cùng cực, tưởng chừng không hạnh phúc nào bằng. Nhưng lòng người thật lạ, sung sướng được hơn năm, ta bỗng gặp cái gì man mác, bâng khuâng trong ánh nhìn của lão Nguyễn, còn lòng ta cũng vời vợi nhớ thương. Một bữa ăn canh lý ngư, ta chợt nhớ bát canh cua đồng nấu với rau đay nhơn nhớt, uống chén rượu thanh mai dìu dịu, ta chợt nhớ tới rượu ngang xé lòng. Nghe gió heo may ta bỗng hoang mang, không biết đông giá quê nhà, mẹ hiền có được manh áo ấm? Rồi tết đến, vắng ta, con thơ có được tấm áo lụa để khoe với bạn bè? Rồi người vợ gầy còm, có đủ sức chăn bầy gà, ổ lợn làm kế sinh nhai? Tâm sự mang mang, ta với lão Nguyễn chẳng dám nói ra, nhưng cũng hiểu nhau qua tiếng thở dài bất chợt. Vợ tiên hình như linh cảm được điều gì bất ổn. Ở cõi tiên không có tình buồn, mà người tiên bỗng thấy lòng sầu vời vợi, đó là căn bệnh của cõi người lây tới thiên cung. Vợ ta dịu dàng, nhỏ nhẹ :

- Không biết cảnh tiên có gì khiến chàng buồn? Không biết thiếp vụng về có gì làm chàng không vừa ý?

Ta không dám nhìn nàng, cố thu hết can đảm:

- Ta nhớ quê nhà.

Vợ ta thở dài:

- Cõi tiên không giống cõi trần, người tiên không giống người trần, thiếp đã biết trước sẽ có ngày hôm nay. Nhưng một ngày cõi tiên bằng ba năm dưới thế. Chàng đã dừng chân nơi đây ba năm, như vậy trở về quê nhà, chàng đâu còn gặp lại cảnh cũ, người xưa.

Ta vẫn cúi đầu vụng về lập lại:

- Ta nhớ quê nhà.

Vợ ta ngậm ngùi, an phận :

- Thôi đành vậy, chàng nên xin phép về quê, rồi mau mau trở lại cùng thiếp, thiếp mong.
Ta với lão Nguyễn dừng chân bên bờ suối, nhìn lại cảnh tiên, lòng muôn vàn bịn rịn, nhưng tình quê vẫn thấy nặng hơn, nên đành dứt áo, vượt qua dòng suối, tìm lại quê nhà.

Vế gần đến quê, lòng ta hồi hộp, những mong chắp cánh mà bay, nhưng bước tới đầu thôn, chân bỗng ngập ngừng, một phút mải vui, ai dè chớp mắt đã ba năm, giờ về đây, những e mẹ già quở phạt, lại sợ vợ trẻ, con thơ trách móc vì mải vui quên cả gia đình. Sau phút bâng khuâng, ta bỗng nhận ra cảnh vật đổi sao dời, vẫn lũy tre xưa, nhưng xóm làng đổi mới, nhà nhà đều có hàng rào vây bọc, có lẽ lòng người đã khác xưa, không còn rộng mở. Nhà cũ của ta đây rồi, đón ta, con chó già nằm lười giữa sân lạnh lùng sủa hung hăng, rồi một ông lão trạc tám mươi, chống gậy ra mở cổng. Ông lão hoàn toàn xa lạ, nhìn ta ngơ ngác, không lẽ nhà ta đã đổi chủ. Ta vội hỏi:

- Chắc cụ là người phương xa mới dọn tới đây.

- Ông lầm rồi, dòng họ tôi đã bẩy đời lập nghiệp ở làng này, đây là nhà tôi sinh sống từ tấm bé.

- Vậy không lẽ tôi lầm nhà, đây không phải là nhà Lưu Thần sao. Tôi là bạn cũ của Lưu Thần xin gặp.

- Lưu Thần nào? - Ông lão nhíu mày - Tên này rất quen. À tôi nhớ ra rồi, tằng tổ tôi cũng có một người tên là Lưu Thần, nhưng nghe đâu cụ đã theo bạn nhập Đào Nguyên, từ đó bóng chim tăm cá, cả làng không được tin gì.

Ta ngậm ngùi bỏ đi. Lão Nguyễn cũng gặp cảnh ngộ như ta. Đúng như lời người tiên đã nói, một ngày cõi tiên bằng ba năm dưới thế. Rồi đó ta và lão Nguyễn lại rủ nhau đi biệt. Hai ta đi đâu? Dị sử hoang ngôn, người đời nhiều chuyện, tất cả đều kể hai ta ở làng được ít lâu, không kham nổi cảnh đời cực khổ, lại lặn lội tìm về Đào Nguyên, nhưng mộng cũ mê đường, hai ta lạc lối. Đào Nguyên đâu không thấy, hai ta đi tìm, lang thang tới chết, chết đi vẫn hận, hoá thân thành loài di điểu, cứ mùa Đông lại bay về quê xưa.

Lão Nguyễn ngừng kể, nhìn gã bâng khuâng:

- Này huynh ông, thực ra hai ta vẫn tìm lại được chốn này và Đào Nguyên đang ở trước mặt, nhưng bọn ta đã dừng chân nơi đây, dựng lều bên suối hai mươi năm rồi, lòng vẫn dằng co, phân vân giữa đôi bờ mộng thực. Ở bên này bờ thì phải vỡ đất khai hoang, tận lực mưu sinh, qua bên kia bờ, cuộc sống tuy an nhàn sung sướng, nhưng lòng lại nhớ thương trùng trùng, nhớ bát canh cua ăn với quả cà, nhờ mùi thơm của hương luá mới, nhớ giọng ngọt ngào của lời mẹ ru con, nhớ cả những tiếng chửi thề, văng tục của bọn người kẻ chợ. Đi hay ở, bề ngoài tuy giản dị, nhưng sự chọn lựa bao giờ cũng đầy khắc nghiệt, cuộc chọn lựa kéo dài đã hai mươi năm.

Buổi rượu đã hầu tàn, gió đêm gai gai trở lạnh, lúc ấy trăng hạ huyền vừa mọc, đâu đây văng vẳng tiếng trúc, tiếng tơ. Gã vốn là người yêu nhạc, ngơ ngẩn lắng nghe. Tiếng đàn thật lạ, không phải cung bậc ngũ âm, tiếng đàn tuyệt vời điêu luyện, nhưng sao không rung động lòng người, hình như trước sau chỉ có một giai điệu đầm ấm vui hoà, như chim muông ríu rít. Tiếng đàn không có cái xót xa của cảnh sớm họp, chiều tan, không có cái tái tê của cuộc tình lận đận, không có cái khắc khoải của người vợ trẻ trông chồng, không có cái chán chường, dằn vặt của gánh nặng áo cơm, cũng không có cái ray rứt của cuộc đời trăm cay, ngàn đắng, tiếng đàn như thiếu một chiều sâu lắng đọng của tâm tư. Tiếng đàn cõi tiên, đâu giống tiếng đàn của cõi người trùng trùng tâm sự. Lại có tiếng lão họ Lưu vang lên :

- Bọn ta đã hai mươi năm phân vân chọn lựa. Hôm nay sẵn có huynh ông, chúng ta nên chăng dứt khoát một lần. Hay là huynh ông thử theo bọn ta... theo bọn ta lội qua dòng suối tìm cõi Đào Nguyên.

Gã trang trọng hỏi :

- Thưa cụ, cõi người có gì đáng chán ?

- Cõi người "sinh, lão, bệnh, tử" không ai tránh khỏi, cơm áo, tình duyên, công danh sự nghiệp là vòng hệ lụy. Có một ước muốn là có một điều khổ, có trăm ước muốn là có trăm điều khổ, đời là bể khổ mênh mông.

- Trời có khi nắng, khi mưa, tình có lúc đậm, lúc lạt, có đau khổ biệt ly thì mới sung sướng lúc đoàn viên, có đói cơm rách áo, mới thỏa lòng khi no đủ, nhịn đói ba ngày mới thấy món "mầm đá hầm" là ngon. Đó là cuộc đời muôn màu, nghìn sắc.

"Sinh, lão, bệnh, tử" là điều không thể tránh, sao không bình thản mà chờ ? Có một nỗi khổ là có một niềm vui, có trăm nỗi khổ là có trăm niềm vui, sao không can đảm bước vào bể khổ để tìm lạc thú nhân sinh ?

Rồi gã lại hỏi :

- Thưa cụ, cõi tiên có gì là vui ?

- Cõi tiên không có tiếng khóc, tiếng than, chỉ có tiếng cười vui và nhã nhạc, không phải làm lụng mà vẫn có của ăn, mỗi bữa cơm thường đều như yến tiệc. Ở thì gác tiá lầu son, người đẹp lớp lớp như mây, trai như cây ngọc, gái như Hằng Nga. Tứ chứng nan y không có, mà tuổi thọ sánh ngang đất trời.

- Tuổi thọ sánh như đất trời, mà trọn đời chỉ thấy một bề, như vậy còn gì chán hơn. Người người đều là cây ngọc, nhưng không có Chung Vô Diệm, sao biết Tây Thi là đẹp. Đã không đói khát thì cao lương mĩ vị lấy gì làm ngon. Không phải làm mà vẫn đầy đủ, sao biết được giá trị của miếng cơm manh áo. Như vậy đủ thấy không có gì nhàm chán bằng cảnh tiên đơn điệu, không có gì ấm áp bằng cõi người lênh đênh. Hai cụ có đi thì đi, còn tôi quyết chí quay về.

Sáng sớm hôm sau, khi mặt trời vừa mọc, gã quẩy gói lên đường. Lên tới lưng đồi, gã dừng chân ngó lại. Vượt lên ngàn dặm hoa đào là lớp lớp đình tạ, mái ngói cong xanh biếc như màu ngọc lưu li. Bên bờ suối, hai lão Lưu, Nguyễn đang đứng tần ngần, hình như giằng co bất quyết. Chợt thấy lão họ Nguyễn bước nhanh vào bếp, lấy ra một mồi lửa, lão thẳng tay dí vào mái lá, lửa hồng theo nắng hạ bùng lên, phút chốc lều cỏ ra tro. Thấy gã còn đứng ở lưng đồi, hai lão đưa tay vẫy gọi rối rít, rồi tất cả chạy theo. Tới đỉnh đồi, cả ba dừng lại nhìn nhau, bất giác cả cười. Rồi Lưu Thần, Nguyễn Triệu cùng gã đồ gàn tay nắm tay, xuôi dòng suối trong, tìm lại cõi người.

Friday, October 19, 2007

Khoảng tối 2: Trôi theo dòng đời


Vũ Lưu Xuân

Gã giọng ngậm ngùi:
-Chóng thật, mới đó đã trăm ngày, để tôi thắp cho nó nén nhang.
Tôi đưa gã lên căn gác gỗ. Hũ tro vẫn đặt trên mặt bàn, không có ảnh, chỉ có một bình hồng nhung, cắm theo kiểu Nhật, thấp, lòa xòa. Lúc sống, nó vốn thích hồng nhung. Gã thăp ba cây nhang, đứng lặng, không vái, khoảng năm phút. Lúc gã quay lại, tôi hỏi:
-Ông nói gì với nó mà lâu vậy?
-Có nói gì đâu, tôi chỉ đứng nhìn. Chúng ta thường xuyên bị cuốn dạt vào những khoảng tối, nhưng chính khoảng tối lại giúp nhìn đời rõ hơn.
Gã chợt hỏi:
-Rảnh không?
-Câu hỏi thừa. Già rồi, tôi chả bao giờ bận cả.
-Được, tôi sẽ dẫn ông đến thăm Thu. Rồi ông sẽ thấy, cuộc đời đầy rẫy những khoảng tối. Ông nhớ Thu không? Con bé trước ở trong trại, tôi đã có dịp nói với ông rồi đó.
-Nhớ, nó không còn ở trại nữa à?
-Hết hạn lâu rồi. Những ngày tháng còn lại, nó muốn có một không gian để thở và để viết, tôi giúp nó. Nó có khả năng, thời trẻ đã qua năm thứ hai đại học. Gặp khó khăn, bỏ ngang.
Gã dẫn tôi ra ngoại thành, vùng đồng quê. Căn nhà thấp, rêu phong, lẩn khuất giữa vườn cây, tĩnh lặng. Trước khi vào nhà, tôi hỏi gã:
-Ông xưng hô với nó thế nào?
Gã thản nhiên:
-Anh em. Lúc nó còn bán nhà hàng, đã có thời gian tôi với nó quan hệ trên mức tình cảm. Chả lẽ xưng hô bố con, chú cháu?
Giữa ban ngày, căn phòng hơi tối, nhưng sạch và gọn. Cạnh cửa sổ, một thân hình mảnh mai, gầy guộc, ngồi trầm ngâm bên trang giấy viết dở.
-Em đang làm gì vậy?
-Viết.
Cô gái ngẩng lên, sẽ sàng vuốt mái tóc dài che gần kín khuôn mặt. Khuôn mặt rất khó đoán tuổi. Bàn tay trắng muốt, nổi từng sợi gân xanh. Tôi chợt bắt gặp giữa khoảng tối của khuôn mặt một đôi mắt sâu thẳm, buồn vô cùng. Gã chỉ tôi, giới thiệu:
-Anh Xuân, nhà văn.
Giọng cô gái hờ hững:
-Hân hạnh, anh…
Tôi vội chặn ngang:
-Anh Hoàng lại đánh bóng rồi. Chú chẳng bao giờ là nhà văn. Thứ nhất, chú không có tác phẩm trình làng, thứ hai chú rất sợ những danh xưng, nào là nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ…. Danh xưng làm con người mòn đi, vì cố mài dũa chính mình để nhét cho lọt những chiếc khuôn.
Cô gái hỏi bâng quơ:
-Làm thế nào để khỏi mòn đi?
-Tuyệt đối chân thật với mình và với người, chỉ đơn giản vậy.
Cô gái nhìn tôi kỹ và lâu, gật gù:
-Cháu hiểu.
-Mà cháu đang viết gì đó?
-Một dạng tự truyện. Thật ra cháu chỉ ngồi tính sổ ba mươi năm làm người rồi ghi lại. Từ lúc sinh ra, lớn lên, bị cuốn trôi trong dòng đời, cố bơi vào bờ, lại bị cuốn trôi, lại cố bơi vào bờ. Cứ thế, một chuỗi những phấn đấu mệt mỏi đến tuyệt vọng. Điều cháu lo hơn hết: đuổi cho kịp thời gian, có thể chỉ tính bằng ngày.
-Vậy bây giờ cháu đang ở đâu? Trên bờ hay giữa dòng sông?
-Trên bờ, thở dốc vì kiệt lực.
-Tốt rồi. Chết đuối giữa dòng sông khổ lắm. Lúc đó mình không tự chủ được, đành phó mặc cho dòng nước cuốn đi.
Khuôn mặt cô gái dãn ra, thấp thoáng một chút ánh sáng. Cô lảng sang chuyện khác:
-Anh Hoàng ở chơi lâu không?
-Tới khi nào chủ nhân còn thích nói chuyện. À, em viết đến đâu rồi?
-Đến chỗ con gái em chết.
Tôi ngạc nhiên:
-Cháu có con à?
Cô cười:
-Đúng ra là con nuôi. Từ chốn sâu thẳm, người đàn bà nào cũng khao khát làm vợ và làm mẹ. Đứa bé đến với cháu rồi lại đi trong những thời điểm hết sức lạ lùng.
-Cháu kể lại, được không?
Nét mặt cô gái chợt tối đi, cô trầm ngâm, rồi ngước mắt nhìn tôi, giọng dứt khoát:
-Có gì phải dấu đâu. Cháu bị đưa lên trại sau khi công an bắt qủa tang đang bán dâm, án mười tám tháng cải tạo. Ở đó ngày dài và chán vô cùng, đặc biệt vào dịp tết, tuy ngoài đời cũng chẳng có chỗ để về, nhưng giữa thời khắc giao thừa, bám vào chấn song, nhìn ra ngoài trời, chờ đợi rất vu vơ, có thể là tiếng chuông chùa, từng giọt, từng giọt. Lúc ấy lòng chợt cảm thấy thiếu một cái gì đó rất thiêng liêng.
Cô gái gượng cười, tôi có cảm tưởng nụ cười là chiếc đập, chặn ngang dòng nước mắt.
-Đã bao giờ chú có cảm giác ấy chưa? Thiếu một chút gì đó rất thiêng liêng.
-Có, có đó, nhất là khi cuộc sống càng lúc càng cằn đi.
-Hàng ngày cháu miệt mài lao động để cố quên. Được hơn một năm, cháu tự nhiên cảm thấy trong người rất khác, uể ỏai, mệt mỏi. Kết qủa xét nghiệm: HIV dương tính. Đối với bọn người như chúng cháu đó là thứ định mệnh luôn lơ lửng, rình rập, nhưng khi đến, nó vẫn mang đầy vẻ tàn bạo, làm nghẹt thở, ngoài sức chịu đựng. Đầu óc cháu hỗn độn, vừa đầy ắp, vừa rỗng tuếch, nổi trội hơn hết là cảm giác tuyệt vọng, thật nặng nề. Cảm giác tuyệt vọng dẫn đến nhiều toan tính đen tối. Cháu muốn trốn trại, muốn trả thù đời, muốn sống thật điên những ngày còn sót lại, đôi lúc muốn tự tử. Và rồi con bé đến, thật tình cờ.
-Vậy đó, chúng ta luôn muốn làm chủ thân phận của mình, nhưng có những khúc quanh trong cuộc đời lại do một tình cờ quyết định. Vậy đó, cuộc đời là vậy đó. Cháu tiếp đi.
-Giữa lúc lòng cháu luôn nung nấu ý định tự tử thì một buổi sáng, lúc đi lao động nhẹ, bọn chắu bắt gặp ngay trước cổng trại một cái hộp các tông. Tiếng ọ ọe trong chiếc hộp làm cháu giật mình. Đó là một đứa bé tím ngắt, dúm dó. Chiếc hộp qúa nhỏ, khiến đôi chân của nó phải rút lại. Một vài con kiến bắt đầu bu lên mặt, lên người. Nhìn đứa bé, đột nhiên cháu có một cảm giác thật lạ lùng, giống như dòng điện chạy dài suốt sống lưng, lạnh buốt. Một sinh linh vô danh xuất hiện trong cuộc đời như thế đó, không được đón chào và cũng không được chấp nhận. Cháu vội ôm nó chạy vào phòng. Cố làm mọi cách để giữ lại mầm sống rất mong manh. Cháu thành công, nó bắt đầu sống cuộc sống con người. Bà quản giáo nhân hậu bất chấp nội quy, bằng lòng cho cháu giữ. Nó là con của cháu, vậy đó. Nó là con của cháu, đúng không?
Mãi tới lúc này tôi mới được thấy trên gương mặt cô gái một chút gì đó sinh động, ngời ngời. Có thể là một thoáng hạnh phúc rất hiếm và mong manh.
-Thế lúc ấy cháu còn nuôi ý định tự tử nữa không?
Cô gái cười, nói đùa:
-Người mẹ chưa một lần sinh nở rất vụng về, bận suốt ngày, có rảnh đâu mà tự tử. Con bé èo uột, khóc hoài, có lẽ đau nhức vì những vết lở lóet, cháu lây nước chè tươi tắm cho nó, vết thương có phần se lại, giúp nó ngủ yên. Khỏi khám, cháu cũng biết đó là dầu vết của căn bệnh AIDS quái ác. Cháu cố chăm chút, cho nó ăn thật nhiều, mong tạo cho sinh linh yếu ớt một chút sức đề kháng. Nó càng đau đớn, cháu càng thương và càng cảm thấy có trách nhiệm nhiều hơn. Có người bảo, ốc không mang nổi mình ốc, còn làm việc dở hơi, tào lao. Chú có nghĩ vậy không?
-Đúng rồi, cháu tào lao, nhưng đôi khi những việc làm dường như tào lao lại rất cần giữa muôn vàn tối tăm của cuộc sống. Nó nhen nhúm một chút hơi ấm trong lòng người thường rất giá lạnh.
-Cháu quên nói một điều, những ngày ở trại, anh Hoàng thỉnh thoảng vẫn đến thăm. Khi có đứa con, cháu làm mẹ, săn sóc, còn anh Hoàng cung cấp mọi phí tổn, phương tiện. Anh Hoàng giúp đỡ mẹ con cháu nhiều lắm.
Cô gái nhìn bạn tôi, không phả bằng ánh mắt của người tình, mà bằng ánh mắt cảm kích của kẻ mang ơn. Có lẽ cô gái trẻ chưa một lần trong đời nhìn gã bằng ánh mắt người tình. Gã cười, ngượng nghịu:
-Con bé mang đến cho em niềm vui, phải không?
-Vâng, niềm vui. Niềm vui làm mẹ, em chưa từng làm mẹ và niềm vui làm người có ích, em chưa từng làm người có ích.
Tôi chợt bùi ngùi:
-Thế đã đủ rồi, quá đủ rồi.
-Vâng, thế đã đủ rồi. Những niềm vui nho nhỏ, những ngọn nến thắp trong một đêm lạnh và tối. Niềm vui nho nhỏ thật sự cần cho cuộc sống đều đặn, tẻ nhạt.
Đầu cô gái cúi xuống thật thấp, thật thấp, khuất hẳn sau đôi tay đầy những lằn gân xanh. Tôi tò mò, muốn hỏi tiếp, nhưng không đủ can đảm phá tan sự yên lặng. Sự yên lặng đến giữa lúc chẳng còn gì để nói, hoặc có quá nhiều điều nên chẳng biết nói gì. Lát sau cô gái ngửng lên, tôi thấy trong đôi mắt buồn một ngấn nước long lanh.
-Chuyện của cháu chán ngắt, chú có muốn nghe tiếp không?
-Chú đang chờ nghe đây.
-Con bé chết khi lần đầu tiên biết bập bẹ tiếng Mẹ thiêng liêng nhất trong cuộc đời.
Đột nhiên cô gái khựng lại, khá lâu, rồi chợt đẩy qua tôi cuốn tập viết dở.
-Cháu vừa viết xong đoạn này, với những cảm xúc rất thật. Nếu muốn, chú tự xem đi, cháu hơi mệt.
Tôi hiểu tâm trạng cô. Ngôn ngữ chậm quá, nhiều khi không theo kịp cảm xúc, thứ cảm xúc tuôn trào thành nước mắt, chận ngang cuống họng. Cô muốn gậm nhấm nỗi đau trong thinh lặng, nỗi đau trong thinh lặng là nỗi đau được đẩy lên tới mức tột cùng.
-Cháu mệt hả, cứ nghỉ đi, chú không làm phiền cháu nữa. À này, chú mang về đọc được không?
-Có gì đâu, chú cứ mang về, sau đó cho cháu một lời khuyên.
-Lời khuyên hả? Chú có rất ít lời khuyên và rất ngại khi phải khuyên người khác. À, chú già rồi, đây là câu chú thường tự nhắc mình, cháu nghe xem có được không: hãy sống những ngày còn sống.

Buổi tối, ngồi bên bàn viết, trước mặt tôi là hũ tro, hũ tro của người đàn bà đã đầu độc đứa con dứt ruột đẻ ra, một giải pháp chẳng đặng đừng. Cạnh đó là ba cuốn tập học trò, quyển tự truyện của người con gái đang bước dần đến cái chết, người con gái đã vật lộn, cố níu lấy một sinh linh chợt đến rồi lại chợt đi. Trong không gian tĩnh lặng của đêm đen vừa đủ sâu, tôi nghe cả hai đều cất tiếng nói. Họ nói gì? Tôi cố hiểu mà không thể hiểu.


7-11-2004




Khoảng tối 1: Người đàn bà bị kết án

Vũ Lưu Xuân
Gã lặng lẽ nhìn ra ngoài đường, mắt nheo lại, mất hút. Tôi hỏi vu vơ:
-Nắng quá, ông nhìn gì vậy?
-Quá khứ. Thời còn là sinh viên.
-Ông thấy gì nào?
-Một lũ con trai, con gái coi trời bằng vung. Ở đó trời và đất chan hòa ánh nắng, thỉnh thoảng cũng có mưa, từng cơn, mưa Sàigòn.
-Chóng quá, gần bốn mươi năm, như một thoáng mắt. Tôi vẫn nhớ ngày tốt nghiệp, nó hát bài Sàigòn đẹp lắm, Sàigòn ơi! Sàigòn ơi! Sau đó cả lũ rời xa Sàigòn, mỗi đứa mỗi nơi, mỗi đứa một cuộc đời, một định mệnh không thể chối từ.
-Và có đứa đã bỏ cuộc chơi, cay đắng.
Gã chỉ hũ hài cốt đặt trên mặt bàn.
-Khoản này, ông tính sao?
-Cũng chưa biết, có lẽ phải đưa về nhà, để trên bàn viết.
-Tiện không?
-Đành vậy. Nó một thân một mình, có đạo, chẳng lẽ đem vào chùa. Còn nhà thờ? Nó đầu độc con, tù tội, tự tử, mà đến hai lần, người đàn bà bị kết án, ai cho?
-Thế ông gặp lại nó lâu chưa?
-Khoảng hai năm, như một tình cờ. Cũng như gặp lại ông, và ông ngồi đây, như một tình cờ.
-Tôi không hiểu nó nhiều. Theo báo chí, dư luận, nó là người đàn bà đáng bị kết án, đúng không?
-Đúng, từ một góc nhìn nào đó. Tôi cũng là gã bị kết án. Lần cuối gặp nhau, nó vừa thở dốc, vừa cười, nụ cười gượng gạo, méo mó, biến dạng: tôi lại tự tử, ba chục viên thuốc ngủ, ông có đưa đi cấp cứu không? Tôi lắc đầu : không. Và tôi ngồi bên giường, trống rỗng, lặng lẽ nhìn nó ngấm thuốc, chết dần. Trong một chừng mực nào đó, cuộc sống con người vượt ra ngoài mọi khuôn khổ cứng ngắc của luật pháp và tôn giáo, những cơ chế không biết đến luật trừ
Gã thở dài:
-Tụi mình sinh ra, lớn lên, rồi già đi trong một thế giới thật kỳ cục.
Câu nói của gã khiến vị đắng trào lên. Gã cầm xị đế rót ra ba ly nhỏ.
-Nó có biết uống rượu không ?
-Có, thời sinh viên thỉnh thoảng làm một cặp sec, uống và khóc, nó bảo: đầu óc ngà ngà một chút, chính là lúc thấy mình rõ hơn. Đám bạn gái trong lớp, tôi thân với nó nhất. Nó không đẹp, nhưng có chiều sâu .
-Đúng, nó có chiều sâu.
Gã đổ ly rượu lên hũ tro:
-Nào, mời bà. Thế nó để lại gì?
-Một bản án bảy năm vì đầu độc đứa con tàn tật, những lời nguyền rủa và hai lần tự tử. Còn nữa, một hũ tro và một cuốn nhật ký. Đó là dấu chứng cuối cùng của một cuộc đời.
-Ông đọc chưa?
-Đọc rồi, lướt qua bên cạnh giường, lúc ngồi nhìn nó chết. Về sau đọc thêm hai lần, khi mọi xúc động đã đủ thời gian lắng xuống.
Gã thở dài, đăm chiêu:
-Có chút gì đó nhẫn tâm.
Lời nói ấy tự dưng khiến tôi bực mình.
-Cái chết, với nó là một chọn lựa, tôi tôn trọng, không can thiệp, vì không tìm được giải pháp toàn vẹn hơn.
Gã rót đầy ly rượu, gật gù. Tôi tiếp:
-Giây phút cuối bên nó đã dậy cho tôi một điều: sự khoan dung. Khoan dung mỗi khi phán xét.
-Cuốn nhật ký đâu rồi?
-Để ở nhà.
-Tôi muốn xem, được không?
-Được, buổi tối đến tôi. Mấy năm cuối nó cố ý xa lánh mọi người, nhưng ở trong tận cùng ký ức, chúng mình đối với nó vẫn là bạn, lũ bạn một thời rong chơi.
Gã uống cạn ly rượu:
-Thôi tôi về, còn ông đi đâu?
-Chở nó đi một vòng Sàigòn, trở lại thăm những vùng trời, vùng đất ngập nắng và kỷ niệm. Mấy chục năm nay, nó chỉ thuộc một con đường duy nhất từ nhà đến lớp. Ông biết đó, lúc trẻ nó là đứa sôi nổi, có vẻ hơi điên điên, mê sách mà cũng mê vũ trường. Mỗi không gian gợi cho nó một cảm xúc, một ước mơ riêng.
-Hình như ngày xưa ông yêu nó?
-Không, với tôi, lúc nào nó cũng là một người bạn, vậy thôi.

*

Buổi tối, tôi ngồi đối diện với hũ tro đặt trên mặt bàn, hũ tro chiếm một khoảng không gian rất nhỏ, giống như con người giữa cuộc đời, trơ vơ. Và gã đến, bước chân nhẹ nhàng.
-Nhìn hũ tro, ông thấy thêm điều gì?
-Vẫn một điều duy nhất: sự khoan dung.
Tôi đưa cho gã cuốn nhât ký của Đào:
-Ông xem đi, đọc tạm phần cuối.

*

24-12. Khuya rồi, hơi lạnh, trời lạnh làm ý nghĩ trong và sâu. Tôi ngồi chờ một hồi chuông. Chuông đổ. Lạ thật, giờ Chúa Giáng sinh lại khiến tôi nghĩ đến cái chết. Tôi thấy một cơn đau nhói ở vùng bụng, râm ran, âm ỉ, khoảng năm phút. Cơn đau là điềm báo của chứng ung thư. Sáng nay tôi đã nhận được kết quả xét nghiệm: ung thư gan. Tôi từng đi thăm một người ung thư gan, khô kiệt, dúm dó, rên xiết, la hét vì đau đớn. Số tiền hai trăm triệu chỉ đủ để làm giảm những cơn đau trong lúc chờ chết, cái chết được báo trước. Có tiếng trằn trọc, vùng vẫy tay chân.Tôi nhìn sang đứa con, đứa con gái hai mươi lăm tuổi không mang đầy đủ dáng dấp con người. Đứa con của mẹ da vàng. Nó nằm đó, dẫy dọn, nước dãi chảy dài bên khóe mép. Chắc lại đái dầm. Tôi uể oải ngồi dậy, lấy khăn lau, nước tiểu ướt đẫm một vũng chiếu. Thay xong quần áo, nó ngủ tiếp, nét mặt trơ trơ. Nó là con gái tôi, đứa con hai mươi lăm tuổi, chưa từng trải qua một thời con gái. Nó sinh ra, mang thân phận con người, nhưng không hề được sống cuộc sống con người. Đứa con cần sự thương yêu, che chở của tôi suốt hai mươi lăm năm, nó sẽ ra sao một khi tôi chết? Tôi cố tìm một giải pháp cho nó và cho tôi. Giải pháp nào cho một sinh mệnh đã sống mà như chưa từng sống?
25-12. Hôm nay lễ Giáng sinh, vẫn không được nghỉ. Buổi sáng nhìn tôi trong gương, tôi bỗng thấy khuôn mặt anh, người chồng đã âm thầm bỏ đi khi đứa con gái bất hạnh vừa tròn ba tuổi. Thú thật ngày ấy tôi oán hận anh vô cùng. Bây giờ, đối diện với cái chết không thể trốn tránh, cùng với những giải pháp chẳng đặng đừng thấp thoáng trong đầu, tôi chợt cảm thấy lòng mềm lại, khoan dung, mọi phán xét đều bất công và khắc nghiệt, một khi chưa nắm đầy đủ các yếu tố quyết định hành động của một con người. Tôi nhớ lại anh ngày ấy, mắt mờ dần, tóc rụng, da lấm tấm đỏ, sần sùi. Phải chăng những triệu chứng ấy đã đẩy anh đến một chọn lựa, có thể không đúng, nhưng là chọn lựa của con người, con người hoàn toàn cô đơn khi phải đảm đương thân phận của chính mình, nó là một sinh linh chẳng bao giờ hoàn thiện, chính vì thế nó đáng được tha thứ hơn là phán xét. Trong một thế giới khô cứng vì quy tắc, định chế, tôi cũng sẽ bị phán xét. Phải chi ngày ấy tôi nhìn anh kỹ hơn.
26-12. Tôi không thể ngồi yên chấm bài. Con gái tôi cứ vò đầu, bứt tóc, ú ớ, la hét từng hồi, nó không biết cách diễn tả ý nghĩ, nên lúc nào cũng tức tối, bứt rứt. Tôi đưa nó vào nhà tắm, trút bỏ hết áo quần, gáo nước lạnh làm nó dịu bớt. Trước mặt tôi là một hình hài: đầu to, cặp mắt đờ đẫn, ngốc nghếch, trên mặt đầy những bớt đen, loang lổ, thân hình méo mó, xiêu vẹo. Đó là hình hài, là một phần máu thịt của tôi, người đàn bà từng một thời sôi nổi, sống trọn vẹn mọi chiều kích của cuộc sống. Còn nó, nó có gì? Một tuổi trẻ thiếu những khoảng rộng của trời và đất. Phải chi nó cũng được sống những ngày tháng bồng bột, điên cuồng, lầm lạc để được tha thứ, tha thứ rồi lại lầm lạc. Tôi sẵn sàng chấp nhận với ánh mắt bao dung, bao dung trước mọi sai phạm mang dáng dấp con người. Tôi đã có gì, và nó đã có gì? Con tôi!
27-12. Sau một đêm trằn trọc, quyết định dần dần hình thành trong đầu. Tôi không đủ can đảm ghi trên giấy, nó là một dạng tội ác. Có thể tôi sai lầm, tôi đáng bị nguyền rủa, khi không cố tìm một giải pháp toàn vẹn hơn. Nhưng con gái tôi, tôi hiểu nó, dù nó chỉ biểu lộ cảm xúc bằng những tiếng ú ớ hầu như vô nghĩa. Nó cần có tôi, thật cần tôi, trong những tháng năm còn tồn tại trên đời… Cơn đau lại đến, râm ran…đầu óc tôi bấn loạn, rối bời. Thời điểm của bi kịch đã đến rồi, phải không?
*

Gã gấp trang sách, đặt lên bàn, ngồi thừ, bất động. Tôi nói thật khẽ:
-Tập nhật ký chấm dứt ở cơn đau, chưa trọn vẹn, mà cuộc đời cũng chẳng có gì trọn vẹn, như thế, cần gì phải viết thêm. Đó là màn hai của một định mệnh, Đào rất đáng kết án, phải không?
Gã không trả lời, lảng sang chuyện khác:
-Ông có biết chồng nó không?
-Biết, thằng Linh, học trên tụi mình hai lớp. Thời kỳ sinh viên nổi lên chống Thiệu, hắn biểu tình, rải truyền đơn, bị gí, dọt ra bưng. 75, hắn về tiếp quản một trường cấp ba, làm hiệu phó, ở đó có Đào. Rồi hai đứa lấy nhau, rồi hắn bỏ mọi thứ mà đi, không một lý do, biệt tăm biệt tích.
Gã thở dài:
-Kể cũng tệ!
-Đúng, vô trách nhiệm. Nhưng cuối cùng Đào đã tha thứ cho hắn rồi mà. Mỗi khi nhìn thật kỹ mình, chúng ta lại cảm thấy con người, vì yếu đuối và thường xuyên sai lầm, nên cần được chia sẻ, tha thứ.
Gã cúi đầu, có vẻ chấp nhận suy nghĩ của tôi.
-Còn đoạn kết, ông kể đi.
Tôi trầm ngâm, cố nén xúc động, cũng để sắp xếp câu chuyện cho có thứ tự:
-Vắn tắt nhá. Khi thấy nguy cơ đến gần, nó đầu độc con bé, ngồi nhìn con bé chết, rồi tự tử. Con bé chết, còn nó được cứu sống. Ra tòa, nó tự nguyện xin lãnh án tử hình. Cuối cùng bị kết án bảy năm. Gần một năm, bệnh di căn, người ta chuyển nó qua bệnh viện. Vô phương, tôi đưa nó về nhà. Vậy đó. Đơn giản vậy đó.
Giọng nói của tôi bình thản, lạnh lùng, nhưng tôi nghe trong đó muôn vàn xót xa.
Gã hất hàm:
-Trường hợp của nó có yếu tố giảm nhẹ: bệnh ung thư, sao lại bảy năm?
-Vì nó không trưng ra, vì nó muốn được kết án, vì trong tận cùng tâm hồn nó, vẫn có những khoảng tối chúng mình không sao hiểu được.
Gã đứng dậy, mang theo tập nhật ký, bỏ về.
Tôi đứng nhìn theo gã, gã lầm lũi giữa con hẻm tối và sâu. Tôi chợt nhớ câu vừa nói : “Vẫn có những khoảng tối chúng mình không sao hiểu được”.

Hậu Nghệ


Vũ Lưu Xuân

Nghệ đã bắn rụng chín mặt trời, chỉ để lại một . Từ đó trời đất có thiên tai và con người có nhân họa.

Ở phía Tây Thành Đô cõ gã họ Uông, gã không vợ con, sống đời áo cơm đạm bạc, mà hồn tịnh, tâm bình. Một buổi tối cuối năm, lòng chợt ngậm ngùi nhớ thời trai trẻ, tôi lội bộ đường xa tới tìm gã. Cuối con hẻm nhỏ nghèo nàn, tối tăm là một ngôi chùa cổ, tồi tàn. Tôi khẽ đẩy cổng bước qua mảnh sân hẹp, tiến tới căn chòi nhỏ ở góc vườn. Gã họ Uông đang nằm lười trên chiếc giường ọp ẹp.
-Này Uông tiểu tử, mau mau ra nghênh đón lão gia. Gã uể oải ngồi dậy, không chào hỏi, chỉ mỉm cười.
-Tết sắp đến rồi, sao không xó áo ra phố làm vài ly cho ấm?
-Lão Uông ta không còn lòng dạ nào.
-Trên đời này còn có điều khiến Uông tiểu tử phải chau mày nữa sao?
-Có đó! Gã chỉ về phiá bàn:
-Ngươi xem đi.
Trên mặt bàn gỗ tạp, những vết cháy đen giống hình mắt xích in rõ mồn một.
-Cái gì đây?
-Vết xích cháy.
-Ở đâu mà có?
-Do Hậu Nghệ lưu lại.
-Hậu Nghệ ư? Nghệ nào?
-Hậu Nghệ bắn rụng chín mặt trời.
Tôi tròn mắt. Cuộc sống của gã là một chuỗi bất ngờ kỳ dị, nhưng có lẽ đây là điều kỳ dị lớn nhất. Gã tiếp:
-Hậu Nghệ mới tới tìm tao. Lão cứ khăng khăng nhận mình là đầu mối muôn ngàn giống tội.
-Lão ở đâu? Vẫn sống ư?
-Lão vẫn sống, sống ở tầng địa ngục cuối cùng, tầng thứ mười tám. Tiểu tử, ngươi có muốn gặp lão chăng?
-Gặp lão?
-Hôm nay thứ mấy?
-Thứ sáu.
-À vậy mai nhớ đến, lão hẹn cuối tuần trở lại, cần gặp thêm vài người, làm chứng nhân cho lời thú tội. Lão tới lúc nửa đêm.
Lúc tiễn tôi ra cổng, gã họ Uông cười nói:
-Sáu tỷ người trên trái đất, lão lại chọn tìm tao, mày thấy có kỳ cục không?
-Tại sao?
-Có lý do đó, trước hết tại tao kỳ cục.
Hôm sau, tôi lại tìm vào con hẻm cũ. Lúc ấy đã gần nửa đêm. Gã họ Uông kỳ cục ngồi bất động bên chiếc bàn gỗ tạp, gã có vẻ xa vắng, đăm chiêu khác thường. Khi đó bên chùa, hồi mõ khuya vừa dứt. Đâu đây mùi hoa Ngọc lan quyện lẫn hương trầm thoang thoảng, tan loãng vào không gian, lòng người cũng tan theo, lâng lâng, nhè nhẹ. Có tiếng đằng hắng, rồi sư già sẽ sàng đẩy cửa bước vào. Sư già mỉm cười thật hiền:
-Mô Phật! Có một ít trà ngon, không biết tên là gì. Có một bộ đồ trà cổ, không biết từ đời nào, mời các thầy dùng thử.
Gã họ Uông cũng mỉm cười:
-Trà ngon của nhà chùa, ấm chén đẹp của nhà chùa, nước vô căn của trời đất, mượn hoa lễ Phật, để cảm thấy trong đời đôi lúc còn lưu lại chút dư vị thanh cao.
Sư già với gã họ Uông vốn là chỗ bạn thanh khí, vong niên. Ở sư già thoát ra vẻ đôn hậu, hồn nhiên, vô tranh, vô cầu. Bình thường sư già trò chuyện rất vui, vậy mà đêm hôm ấy, trong gian lều cỏ, không khí thật nặng nề, cả ba đều trầm ngâm, dường như không có gì để nói, thảng hoặc có qúa nhiều điều nên chẳng biết nói gì. Cả ba im lặng, thấp thỏm đợi chờ.
Bỗng cánh cửa bật mở, một cơn gió ùa vào, mang theo luồng khí nóng hừng hực, kinh người. Ánh sáng chập chờn của ngọn đèn dầu nhỏ như chợt tối đi, khi một bóng người rừng rực xuất hiện. Bóng người sừng sững như tòa cổ tháp, tóc râu tán loạn, ba vòng xích lửa cuốn quanh thân hình. Khách có dáng điệu hiên ngang của một trang dũng sĩ, nhưng giọng nói sang sảng lại có vẻ từ tốn, ôn hòa:
-Bạch cụ! Các thầy! Tôi không thể đến sớm hơn, để mọi người phải đợi. Thất kính, thất kính.
Sư già chắp tay:
-Mô Phật! Đây là một cuộc thiên cổ kỳ hội. Tôn ông đã chờ được nghìn năm, chúng tôi há chẳng đợi được vài giờ. Tôn ông, mời ngồi.
Chủ khách phân ngôi bên chiếc bàn gỗ tạp. Nghệ ngồi thẳng lưng, từng lời rẽ rọt:
-Bạch cụ! Các thầy! Nghệ tôi vốn là tên thiên cổ tội đồ, hôm nay được phép tới đây, để thành tâm cùng người đời tạ tội. Mục đích chính là muốn qua qúy vị, gửi lại một lời trần tình. Nếu được như thế, thì tội nghiệt của Nghệ này mới mong giảm được phần nào trong muôn một.
Sư già khôn xiết kinh nghi:
-Mô Phật! Trước sau tôn ông cứ khăng khăng nhận mình là đầu muôn mối tội. Lão trọc này ngu tối, không thể hiểu rõ căn do.
-Bạch cụ! Sử sách đã viết về Nghệ ra sao?
-Hậu Nghệ xạ nhật, bắn rụng chín mặt trời.
-Bắn rụng chín mặt trời, chỉ để lại một, của riêng mình. Đó chính là cái họa căn do Nghệ gây ra. Nếu vô phương chặn lại, thì còn di lụy tới muôn đời.
-Mô Phật! Lời lời đáng khiếp. Nhưng họa căn tùy thời mà sinh, tùy thời mà diệt, sao lại có thể di lụy muôn đời?
Nét mặt Nghệ trầm trọng, mắt tối lại, mà trán xếp thành những vết nhăn:
-Nghệ chết đi, bị đày xuống địa ngục, vĩnh kiếp trầm luân- Nghệ chỉ vào ba vòng xích đỏ- Đây chỉ là mấy vòng xích tượng trưng. Dưới địa ngục, mình Nghệ cuốn kín trăm vòng xích lửa, mỗi mắt xích là một mầm tội do Nghệ gieo trồng. Địa ngục trước kia chỉ vỏn vẹn một tầng, nhưng càng về sau, nghiệm ra tội Nghệ càng nặng, từ đó địa ngục mỗi lúc một đào sâu thêm. Tới nay Nghệ độc chiếm tầng cuối cùng, tầng thứ mười tám.
-Bắn rụng chín mặt trời, việc chẳng qua xảy ra một lần, sao tội mỗi lúc một nặng thêm?
-Vì từ đó tới nay, đã có muôn người đi theo con đường của Nghệ, con đường tiêu diệt kẻ khác, để chỉ còn mình là độc tôn. Mặt trời chẳng phải là ánh sáng, là chân lý đó sao?
Nghệ ngừng lại, đắn đo, rồi tiếp:
-Qúy vị có biết tầng mười bẩy dành cho những nhân vật nào đó không? Chính là lũ đồ tử, đồ tôn của Nghệ đó.
-Chúng tôi thiển cận, không rõ đó là những nhân vật nào.
-Đó là những nhân vật đã thành danh trong lịch sử. Ai chẳng biết Tần Thủy Hoàng phần thư, khanh nho, diệt trăm nhà để gom vào một mối. Rồi lãnh tụ các cuộc Thánh chiến, các tòa án Tôn giáo. Rồi những kẻ giương cao ngọn cờ chủ nghĩa, bắt mọi người khuất phục, nhất nhất theo mình, tiêu biểu nhất là chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan, mối đe dọa thường xuyên của loài người. Nhân vật kiệt xuất mới đây là Hitler. Bọn họ chẳng phải những kẻ tôn thờ chủ nghĩa độc tôn đó sao? Giết chín mặt trời, chỉ để lại một.
Nghệ dừng lại hồi lâu, tay chống cằm bất động, ánh măt mung lung dõi về qúa khứ, như muốn tìm chút gì còn đọng ở thời gian. Nghệ chậm rãi thuật lại đời mình.

…Có một chàng trai dáng cao lừng lững, da như đồng hun, khuôn mặt gân guốc, lầm lầm. Dáng chàng man rợ, nhưng vẫn oai nghiêm. Chàng trần nửa mình, ngang hông cuốn một mảnh da beo gấm. Đôi tay chàng cuồn cuộn, buông thõng qúa gối, lưng mang cung cứng, tên dài. Chàng trai đó là Hậu Nghệ. Một hôm, trên đường về, vai vác một con hổ lớn. Gần tới nhà- nhà Nghệ là một hang núi thăm thẳm, tối tăm- Nghệ bỗng dừng lại, ngửa mặt lên trời gầm thật to:
-Lão tặc Thiên.
Tiếng gầm của Nghê át cả tiếng biển Đông, làm mãnh thú giật mình, hoảng sợ…

-Bạch cụ! Các thầy! Ngày ngày, Nghệ phải dự các phiên tòa dưới địa ngục. Nghệ đã mắt thấy, tai nghe biết bao nhiêu thảm cảnh của loài người. Nghệ đã chứng kiến biết bao nhiêu tội ác hủy diệt, phát xuất từ thái độ ngạo mạn duy ngã độc tôn. Từ đó máu chảy thành sông, xương chất thành núi, triệu triệu sinh linh phải bước qua cầu Nại Hà để tiến vào Uổng Tử Thành. Diêm vương và Phán quan dù thiết diện vô tư cũng không khỏi thở dài, ngao ngán. Hôm nay Nghệ được lệnh tiếp xúc cùng qúy vị, để chận đứng bàn tay đẫm máu của những kẻ vẫn tự nhận mình là duy nhất đúng.
Bên chiếc bàn gỗ tạp, ba chúng tôi luôn tay vuốt mặt ướt đẫm mồ hôi, không biết mồ hôi đổ vì khí nóng, hay vì một viễn ảnh ghê người. Nghệ lại như lạc vào quá khứ.

…Theo truyền thuyết, thuở hồng hoang, đất trời mênh mông một màu đen tối, gió heo may không thổi, chỉ có cuồng phong, mưa bụi không rơi, chỉ toàn dông bão. Thế rồi một ngày, trong cõi hỗn mang bỗng xuốt hiện hai mặt trời rực rỡ, ánh sáng chan hòa mặt đất, cuộc sống bừng dậy, nẩy mầm. Vũ trụ từ đó được định hình, phía Đông là biển cả bao la, phía Tây là rừng xanh bát ngát, phía Nam là thảo nguyên ngút ngàn, càng lên phía Bắc, núi càng cao, tưởng có thể vén mây vươn tới cổng trời. Vạn vật thanh bình, mặt biển phẳng lặng như gương. Không có sóng to, gió dữ, cây cỏ màu xanh, rừng màu xanh và hoa lạ đủ màu. Điểu thú từng đàn vui sống bên nhau, đùa dỡn với mọi người. Mặt trời giao phối, cứ một vạn năm, một mặt trời con lại ra đời. Khi Nghệ sinh ra, cũng là lúc mặt trời thứ mười xuất hiện, mặt trời lớn nhất, nóng nhất và sáng nhất. Thuở ấy thời tiết không có bốn mùa, không có ngày đêm. Người ta căn cứ vào lúc mặt trời lớn nhất chui lên từ đáy biển Đông làm khởi điểm một ngày. Không khí ít chuyển động nên không có cuồng phong, chỉ có gió hiu hiu vừa đủ mát. Trên cáo không có mây đen tán loạn, chỉ có mây mỏng như tơ, tuyết sương không đổ, mưa rơi chỉ đủ ướt đất, sạch trời. Và lòng người, lòng người không có thù hận, chỉ chan chứa yêu thương.
Nghệ sinh ra trong một xóm nhỏ ven sông, gần biển. Nghệ có thần lực kinh người. Còn nhỏ có thể đánh ngã mười đứa trẻ cùng trang lứa. Lớn lên, Nghệ cưỡi sóng vượt biển Đông, đùa giỡn với giao long, vào rừng sâu, một đấm chết hổ báo. Có lẽ vì thế, dưới mắt Nghệ, không tồn tại thứ ánh sáng dịu dàng, thứ mặt trời hiền hòa nhỏ bé. Trong lòng Nghệ chỉ có một mặt trời duy nhất, đã sinh ra và lớn lên cùng Nghệ. Sáng sáng, Nghệ trần mình, dựa lưng vào vách đá, dưới ánh nắng rát mặt, rát da, mơ hồ cảm nhận vẻ quyến rũ của sức mạnh hủy diệt. Thế rồi Nghệ lấy vợ, sinh con, một mái lá bên sông, tưởng sẽ là nguồn vui bất tận. Nhưng tai họa bỗng dưng ập đến. Một căn bệnh quái ác tràn tới xóm làng, nhiều người tự nhiên bị chứng đau mắt quái lạ, mắt sưng tấy, rát bỏng, ánh sáng như ngàn vạn mũi tên đau buốt. Bệnh nhân phải rúc vào hang sâu, trốn chạy ánh mặt trời. Trước cảnh vợ con đau đớn, Nghệ bồn chồn, lo lắng, bứt rứt không yên, có lúc phẫn nộ bừng bừng. Theo lời khuyên của các bậc già cả, Nghệ cưỡi bè gỗ, xuôi xuống phương Nam, vấn kế lão Khôn ngoan. Lão Khôn ngoan có thân hình kỳ dị, từ lúc mới sanh, người lão đã gẫy làm đôi. Khi đứng, nửa thân trên của lão song song với mặt đất. Có lẽ từ lúc nhỏ tới lúc bạc đầu, lão chưa hề trông thấy mặt trời thật sự, lão chỉ thấy bóng mặt trời phản chiếu trên mặt nước. Lão hỏi Nghệ bằng một giọng lạnh lùng:
-Này chàng trẻ tuổi, ngươi tìm ta làm gì?
-Xin lão một lời khuyên.
-Phải rồi, phải rồi. Ta là người Khôn ngoan.
-Này lão Khôn ngoan, dân làng tôi phần lớn mắc một chứng bệnh đau mắt kỳ lạ, phải trốn chui, trốn nhủi trong hang tối. Lão có biết vì sao không?
-Vì ánh sáng mặt trời.
-Vậy làm sao chữa?
-Tiêu diệt nguồn gốc gây ra căn bệnh. Như ta suốt đời không đau mắt, vì chưa từng ngó mặt trời.
-Tiêu diệt nguồn bệnh, nhưng bằng cách nào?
-Sao ngươi ngu thế, thì giết bớt mặt trời đi.
-Mặt trời có thể giết ư? Bằng gì?
-Cung của ngươi có đủ cứng không? Tên của ngươi có đủ dài không?
-Mặt trời cao vòi vọi, làm sao bắn tới?
-Có hai con đường: một là vượt thuyền bảy ngày ra giữa biển Đông, chặn cửa ngõ mặt trời thức dạy. Hai là leo núi, tiến lên phương Bắc, tới tận cổng trời, ngăn đón khi mặt trời về ngủ.
-Vậy con đường nào dễ hơn?
-Không có con đường nào dễ cả. Sao ngươi hèn thế, làm việc lớn kể chi khó dễ. Thôi ngươi cút đi cho khuất mắt ta.
Từ giã ra về, Nghệ vào rừng sâu đẽo một cây cung lớn bằng gỗ dâu, loại gỗ dễ uốn cong mà không sợ gẫy, lấy mây ngâm nưới suối độc bảy ngày làm dây cung, lấy gốc cỏ bồng già làm tên, lấy răng nanh loài thanh lang mài nhọn làm mũi, lấy lông chim bạch trĩ làm cánh. Công việc hoàn tất, Nghệ đứng trên gò cao, lấy tấn giương cung, mũi tên xuyên suốt thân cây cổ thụ, cây rung lên bần bật, như muốn tróc cả gốc rễ.
Lúc ấy bên bìa rừng chợt xuất hiện một lão già, tuy râu tóc bạc phơ, nhưng mắt rất sáng và lưng rất thẳng.
-Này chàng tuổi trẻ, ngươi thử cung tên, chắc sắp có việc lớn phải làm?
-Ta đi giết mặt trời.
Lão già có vẻ kinh hoàng, tròn mắt nhìn Nghệ:
-Ngươi muốn giết mặt trời ư? Sao có thể nghĩ tới công việc điên cuồng ấy?
-Ta không điên cuồng, ta giết mặt trời để chữa chứng đau mắt theo lời lão Khôn ngoan.
-Có phải lão thân gãy làm đôi, từ nhỏ tới lớn chưa hề thấy mặt trời?
-Chính lão.
-Lão chưa từng thấy mặt trời, sao biết mặt trời gây ra căn bệnh? Nếu ngươi giết hết mặt trời, vạn vật sẽ chìm trong cõi tăm tối mênh mông, lấy đâu ánh sáng soi đường cho chúng ta đi?
-Ta sẽ để lại một mặt trời lớn nhất, sáng nhất, mặt trời của riêng ta.
-Này chàng trẻ tuổi! Mặt trời có lớn, có nhỏ, ánh sáng có gắt, có dịu, tạo nên muôn màu, nghìn sắc, phù hợp với sở thích từng người. Ngươi không có quyền tước đoạt niềm vui của kẻ khác.
-Ta phải giết mặt trời, vì mặt trời làm vợ con ta, người quanh ta đau đớn.
-Đau mắt không phải vì mặt trời, mà vì không biết chọn cách nhìn. Nếu ngươi thức dậy cùng lúc với mặt trời lớn nhất, ánh nắng chói chang sẽ làm ngươi quáng mắt, đui mù, nếu mắt ngươi không đủ sáng. Nếu ngươi thức dậy dưới ánh nắng dịu dàng, mắt ngươi lần lượt làm quen với nhiều sắc độ, ngươi sẽ thấy mỗi mặt trời đều có vẻ đẹp riêng.
-Lão Khật khùng, ta không ưa lý sự, ngươi đi đi.
Nghệ về hang tối, từ giã vợ con, chuẩn bị cuộc hành trình. Hôm sau Nghệ lên đường khi mặt trời lớn nhất vừa mọc. Nghệ mang theo cung tên, lưng đeo bầu nước, vai vác một con hổ lớn, sửa soạn vượt biển Đông.
Vừa bước vào con đường mòn dẫn ra bờ biển, Nghệ thấy lão Khật khùng dang tay cản lối.
-Ngươi đi đâu?
-Ta đi giết mặt trời.
Nghệ sấn tới, lão vẫn dang tay chận lại:
-Ta không để cho ngươi làm công việc điên cuồng ấy.
-Ngươi cậy vào cái gì để ngăn cản ta?
-Ta cậy vào lẽ phải.
-Còn ta, ta cậy vào vật này- Nghệ chỉ cây cung- Nể ngươi già cả, lão Khật khùng, hôm nay ta nhường ngươi một bước.
Nghệ gầm lên một tiếng, rồi trở bước quay về.
Sáng hôm sau, Nghệ lại từ giã vợ con, vai đeo cung tên, đầu để trần, lưng khoác da beo gấm, chân đi giày cỏ, men theo biển Đông, ngược lên phương Bắc, đi tìm cổng trời. Vừa leo tới đỉnh đồi cao, Nghệ đã thấy lão Khật khùng dang tay đứng đợi.
-Này chàng tuổi trẻ, ngươi đi đâu?
-Ta đi giết mặt trời.
Nghệ hầm hầm sấn tới, râu tóc dựng ngược, mắt tóe hào quang. Lão vẫn dang tay ngăn cản.
-Ta quyết không để cho ngươi làm công việc điên cuồng ấy.
-Ngươi cậy vào cái gì để ngăn cản ta?
-Ta cậy vào lẽ phải.
-Lẽ phải cũng có sức mạnh ư? Còn ta, ta cậy ở vật này.
Nghệ lạnh lùng lắp tên vào cung cứng.
-Lẽ phải bao giờ cũng có sức mạnh.
-Để xem.
Nghệ lấy tấn giương cung.
-Sức mạnh của lẽ phải không thể một sớm một chiều mà thấy được.
-Để xem.
Nghệ buông tay. Mũi tên rít lên như gió hú. Cả người lão đầu bạc văng về phía sau, mũi tên ghim cứng lão vào thân cây cổ thụ. Một dòng máu vọt ra từ vết thương, rất đỏ. Mặt Nghệ thoáng chút bối rối, rồi từ từ đanh lại. Nghệ đeo cung lên vai, lạnh lùng hướng về phương Bắc. Cuộc hành trình của Nghệ hầu như bất tận. Nghệ vượt suối băng ngàn, leo lên chót vót hàng trăm đỉnh núi cao. Nghệ đã buông thử hàng chục mũi tên, nhưng mũi nào cũng chỉ xé gió bay được tới nửa trời. Nghệ nén tiếng thở dài, tiếp tục vượt suối băng ngàn, tiến lên phía Bắc. Cho tới một hôm, đôi chân rắn chắc cũng cảm thấy mỏi nhừ, sau một ngày cật lực leo lên đỉnh núi cao chót vót. Ở chốn cùng trời cuối đất, Nghệ đứng ngó xuống, những ngọn núi xung quanh chỉ còn là những điểm nhỏ. Trên đầu Nghệ, bầu trời như rầt thấp, tưởng có thể với tay nắm được, dưới chân Nghệ là mây trắng chờn vờn. Đi tiếp ít bước nữa, Nghệ bắt gặp một phiến đá cao sừng sững, phẳng lì, trên viết hai chữ lớn. Tuy Nghệ không đọc được, nhưng thầm nghĩ, chốn này đâu có dấu chân trần tục, ắt là bút tích của người trời. Như vậy, Nghệ đã tới nơi cần phải tới. Nghệ cất tiếng cười lồng lộng, bao nỗi mệt nhọc chất nặng cuộc hành trình, bỗng chốc trút hết qua tiếng cười. Nghệ hạ cung tên xuống đất, dựa lưng vào vách đá, ngủ một mạch ba ngày. Tỉnh dậy, Nghệ ăn hết sạch hai đùi mãnh sư, uống cạn một bầu nước lớn. Nghệ chỗi dậy, vươn vai, gầm lên: Lão tặc Thiên, tiếng gầm vang dội núi rừng, đánh thức cả thượng giới.
Lúc ấy, mặt trời từ giữa biển Đông, lững thững đi về phía cổng trời, Nghệ dọn sạch một khoảng trống dưới chân, hít sâu một ngụm khí lớn. Nghệ lấy tấn, giương cung, đứng lấy thế đợi chờ, cung cứng uấn tròn như nửa mặt trời. Bắp thịt Nghệ cuồn cuộn, gân cốt kêu răng rắc, mặt đỏ bừng, tóc râu tán loạn. Mặt trời tới đúng tầm bắn, Nghệ quát lớn một tiếng rồi buông tên. Mũi tên xé gió, rít lên như muốn đâm thủng màng tai, mũi tên vút lên, xuyên mây, xuyên thủng bầu trời, bỗng thấy mặt trời rùng mình, rung chuyển, một dòng máu đỏ rực như thác lửa, sôi sục, ào ào trút xuống. Mặt trời rúm ró, quằn quại trong cơn đau, rồi cả một khối lửa khổng lồ rừng rực lao xuống biển Đông. Biển xanh ầm ầm nổi sóng. Bầu trời xám ngoét như giựt mình hãi sợ. Lúc đó quanh Nghệ một bầy dã thú phủ phục trong nỗi hoảng kinh tột cùng. Nghệ căng mắt nhìn mặt trời rẫy chết, rồi bỗng lớn tiếng cả cười:
-Lão tặc Thiên, ta thắng rồi, ta thắng rồi.
Trời cao và biển rộng mênh mông, sấm nổ, gió gào. Nghệ đứng đó, lưng thẳng, đầu cất cao, tưởng như mình vượt lên tất cả. Nghệ đứng ở đầu non, đứng ở nơi cao nhất, sừng sững như cột đá chống trời. Tai Nghệ lùng bùng những tiếng reo hò cuồng loạn, như vang vọng từ quê nhà:
-Hậu Nghệ xạ nhật, Hậu Nghệ xạ nhật.
Thế rồi Nghệ lại dựa lưng vào phiến đá, ngủ tiếp một mạch ba ngày. Tỉnh dậy ăn hết cả mình mãnh sư, uống cạn một bầu nước lớn. Rồi cứ thế tiếp tục, tiếp tục…

Bạch cụ! Các thầy! Nghệ đã ngẩng cao đầu, lần lượt bắn rụng chín mặt trời và bị đầy xuống đáy mười tám tầng địa ngục. Bọn đồ tử, đồ tôn của Nghệ đã nhân danh một thứ chân lý tuyệt đối, duy nhất đúng, để tiêu diệt những ai không cùng một quan điểm với mình, chúng đáng bị đầy xuống tầng mười bẩy, tầng này hiện đã quá chật. Các vị, như vậy há chẳng phải Nghệ đã gây mầm oan nghiệt đó sao?
Bên chiếc bàn gỗ tạp, ba chúng tôi sững sờ, tê cứng, mình đẫm mồ hôi.

… Trong làn gió sớm mai mát lạnh, lòng Nghệ bỗng bừng bừng, háo hức như thời mới lớn. Một cảm giác tự mãn bồng bềnh sục sôi. Nghệ sừng sững đứng trấn cổng trời, đối diện với biển Đông nhỏ bé xa tít dưới kia. Mặt trời không còn đường chạy trốn, lần lượt rụng dưới cung cứng, tên dài. Sau khi Nghệ bắn rụng mặt trời thứ tư, ánh sáng không còn liên tục, giữa dòng thời gian lần đầu tiên xuất hiện một khoảng cách tăm tối mênh mông, khoảng cách ấy không biết gọi là gì, người đời sau gọi là bóng đêm.
Cùng với mặt trời rơi rụng, bóng đêm càng lúc càng dài, cuối cùng cân phân với ánh sáng. Biển Đông không còn phẳng lặng hiền hòa, từng con sóng bạc cuồn cuộn như tòa núi cao, người đời sau gọi là lớp lớp sóng thần. Bầu trời xám ngoét, từng cụm bông trắng lạnh lẽo bay tán loạn, người đời sau gọi là tuyết giá. Cùng với mặt trời rụng, thế gian bắt đầu có bóng tối, có sóng dữ, có cuồng phong, lũ lụt. Nghệ vẫn đứng đó, trên tuyệt đại cao phong, từng cơn gió loạn, tuyết rơi quất vào mặt, vào người Nghệ. Toàn thân Nghệ lần đầu tiên có cảm giác giá buốt, run rẩy, và lòng Nghệ chợt cảm thấy hoang mang.
Bỗng trong bóng đêm dầy đặt xuầt hiện một đĩa bạc lửng lơ, ánh sáng dịu dàng, hư huyễn, đĩa bạc không biết gọi là gì, người đời sau gọi là vầng trăng. Trong đêm âm u, giá buốt, một vầng trăng vằng vặc, rồi những ngôi sao lấp lánh, lấm tấm điểm sáng màn đêm. Đêm huyền diệu! Nghệ đứng sững, bất động, lặng ngắm ánh trăng, bâng khuâng cảm nhận được cái đẹp sâu thẳm đến vô cùng, Cõi lòng điên cuồng của Nghệ hầu như dịu lại. Ngoài mặt trời chói chang của Nghệ, lại có một vầng trăng dịu dàng…

Bên chiếc bàn gỗ tạp, bốn người lặng lẹ cúi đầu, xuôi theo những ý tưởng thầm kín, riêng tư. Nghệ với tay nâng chén nhỏ, uống cạn một hơi. Nghệ bỗng cười, cố làm xao động bầu không khí nặng nề:
-Thật uổng trà ngon, chén đẹp, những vật này đâu xứng với bọn mãng phu, ngưu ẩm chúng tôi
Đáp lại, chỉ thấy những nụ cười gượng gạo.
Rồi tiếng Nghệ ngập ngừng vang lên, cô độc mà giá buốt:
-Nghệ đã bắn rụng chín mặt trời, chỉ để lại một mặt trời duy nhất. Từ đó trời đất có thiên tai và con người có nhân họa.
Sư già chợt thở dài:
-Mô Phật! Đời là bãi chiến trường, nước mắt chúng sinh trong ba ngàn thế giới góp lại còn nhiều hơn nước đại dương.
Nghệ run giọng:
-Tội nghiệt của Nghệ đong đầy năm sông, bốn biển.
Tôi bỗng thấy thèm một cơn gió nhẹ, hay một chút hương thơm của chồi Ngọc lan. Giá có một tiếng hát ầu ơ, một hồi mõ sớm, chuông chiều, để làm xao động cái trầm uất của không gian tù đọng, nặng nề.

… Mặt trời thứ chín rụng rồi, một dòng máu đỏ dật dờ lan trên mặt sóng, bồng bềnh loang khắp biển Đông. Da trời xám xanh sắc giận. ánh nắng cuối cùng của một ngày tàn vụt tắt, vạn vật chìm sâu trong bóng tối mênh mông. Gió bỗng trở chiều, vũ trụ chợt nổi cơn thịnh nộ hồng hoang, sấm chớp gầm gừ, cuồng phong vần vũ, cây cỏ vặn mình vật vã từng cơn. Ở tít dưới kia, biển Đông gào thét ầm ầm. Thế rồi mưa từng đợc trút xuống như thác đổ. Mưa lạnh và gió lạnh thấm vào da thịt, Nghệ bỗng rùng mình, vội chui vào một hang núi sâu. Nghệ chợt thấy mình vô cùng bé nhỏ, bất lực, yếu ớt và cô độc. Nghệ còn rất trẻ, nhưng lòng lại tưởng đã già. Cảm giác hoang mang, sợ hãi thấm sâu vào từng thớ thịt. Trong bóng đêm u ám, Nghệ thấy thèm vô cùng hương vị của cuộc sống thanh bình, Nghệ thèm một mái ấm, một bếp lửa, một cánh tay vợ hiền, một tiếng bi bô của trẻ thơ. Nghệ muốn tìm đường xuống núi, xuôi bờ biển Đông, tìm lại cố hương. Nhưng trong bóng đêm dầy đặc, Nghệ thèm nhất là một hơi nắng ấm, dù chỉ là sợi nắng mong manh sót lại của buổi chiều tà. Nghệ đã bắn rụng chín mặt trời, bây giờ Nghệ lại thấy sợ bóng tối. Nghệ thao thức chờ đợi, mong chóng đến rạng đông. Nghệ chờ đợi, chờ đợi mỏi mòn, nhưng đềm dài chừng như bất tận. Mưa dịu dần rồi ngưng hẳn, trời trong và gió chuyển heo may. Nghệ chui khỏi hang đá, men tới sườn non. Nghệ ngẩng nhìn trời chờ đợi. Lúc ấy trăng hạ huyền vừa mọc, mỏng như lá lúa, ánh sáng phớt nhẹ màu xanh mềm mại, không đủ xuyên thủng đêm đen. Xung quanh Nghệ tuyết đổ phiêu phiêu, tuyết trắng, sương mờ làm ánh trăng thêm dịu, trăng như dòng sữa ngọt chảy xuôi. Nghệ đứng sững, xuất thần, hồn mở rộng, cảm nhận cái đẹp thiêng liêng của vũ trụ bao la, cảm nhận chút thân bèo bọt, bé nhỏ, yếu đuối của kiếp người. Sinh lực Nghệ từng chút, từng chút rã rời, tan loãng. Tuyết vẫn rơi và tuyết vẫn rơi, Nghệ chìm dần, chìm dần vào cõi chết, giữa cái vắng lặng, lạnh lẽo chất đầy không gian. Toàn thân Nghệ hóa đá, trơ trơ với thời gian.
Nghìn năm sau, nếu có ai lang thang lạc tới cổng trời, sẽ thấy một pho tượng đá đầy vẻ tang thương. Tượng đá phảng phất bóng dáng của một trang dũng sĩ, lưng đeo cung cứng, tên dài. Tượng dũng sĩ mà dường như thiếu vẻ hiên ngang, tượng đá có dáng trầm tư, mắt dõi về quá khứ. Đầu tượng cúi thấp như nuối tiếc, như ân hận, như chất chứa một nỗi buồn. Toàn thân tượng đá trong tư thế co ro, tưởng chừng sợ hãi, tưởng chừng run rẩy, tưởng chừng muốn thu mình thật nhỏ, để trốn tránh sức mạnh tàn phá của đất trời. Trong khóe mắt tượng đá, hình như nhỏ xuống hai giọt lệ long lanh…

Bên chiếc bàn gỗ tạp, đầu Nghệ cũng cúi xuống thật sâu, không gian trầm lắng. Bỗng Nghệ ngẩng lên nhìn mọi người, giọng run run, đượm vẻ khẩn thiết van nài:
Bạch cụ! Các thầy! Các vị xin vì tôi lên tiếng một lần, bằng không, dưới địa ngục sẽ có lúc Nghệ phải đầy xuống tầng mười chín, hai mươi.
Lời Nhgệ không có hồi âm, chìm vào khoảng vắng. Một lúc sau mới nghe tiếng thở dài thật sâu, rồi giọng gã họ Uông trầm đục mà bi tráng:
-Nhưng lời của ta, ai nghe? Ai nghe?
Tiếng nói lại rơi vào khoảng vắng, không chút âm vang. Vị sư giá vén áo đứng dậy, khẽ gật đầu chào mọi người, rồi lặng lẽ trở về thiền phòng, bắt đầu một buổi kinh sớm. Tiếng tụng kinh mơ hồ, lãng đãng, không biết vọng lại từ cõi nào. Tiếng mõ cá lóc cóc, lóc cóc dường như khắc khoải, thôi thúc, nghe sao mà buồn thảm. Lại có tiếng gã họ Uông khôn xiết ngậm ngùi:
-Nhưng còn lời ta, ai nghe? Ai nghe?

1996.

Đôi mắt


Vũ Lưu Xuân



Bố cục bức tranh như thế nào, đó là điều khiến tôi băn khoăn suốt đoạn đường dài, vắng vẻ và ánh sáng bị che khuất bởi những vòm cây. Tôi hình dung ra một khuôn mặt cam đành, lạc lõng, dưới vỏ bọc hoàn toàn vô cảm, bất cần, lãng đãng lẩn khuất giữa các gam màu tím, đan xen với vàng đất, xanh lam, hòa sắc thể hiện chiều kích thứ tư của những dằn vặt nội tâm. Trong lúc đang nghĩ cách diễn tả đôi mắt, tôi chợt giật mình vì một cô gái lao ra ngay trước mũi xe. Tôi thắng gấp, chưa kịp phản ứng, cô đã nhảy lên yên sau, cuống quýt:
-Chạy lẹ lên anh, lẹ lên.
Và tôi vọt xe một cách hoàn toàn vô thức. Sau khi quẹo tới khu đông người, tôi dừng lại:
-Xuống đi
Trong vùng ánh sáng, xuất hiện hình ảnh một cô gái, khoảng trên dưới ba mươi, hơi bèo nhèo, phờ phạc. Khuôn mặt chai cứng, vô cảm. Điều đặc biệt, chìm khuất sau thứ nhan sắc bình thường, nhợt nhạt, đột nhiên tôi bắt gặp đôi mắt, đôi mắt tôi đang tìm cho bức tranh. Dưới lớp quầng đen, đôi mắt có vẻ to và sâu hơn. Đôi mắt nữa phần dại dột, ngu ngơ trong cách nhìn đời, nữa phần sâu kín, ảm đạm, chán chường, ẩn hiện dưới những vết chân chim, đôi mắt đó hầu như tương phản với vẻ trâng tráo sau lớp phấn son nhòe nhoẹt . Cô nhìn tôi, chờ đợi, mà vẫn lúng túng không nói nên lời. Đột nhiên tôi nảy ra một ý định.
-Có đói không? Đi ăn tối nhá.
Cô không trả lời, chỉ gật đầu.
Khi tôi chưa chuẩn bị xong chanh ớt, cô gái hầu như đã gục đầu vào bát phở nghi ngút khói, nóng đến phỏng lưỡi. Nhìn sững cô, có chút bàng hoàng, tôi chợt nhận ra sự tàn nhẫn của cái đói, cũng như cái giá con người phải trả cho bản năng sinh tồn, thứ bản năng đôi lúc thực sự khốn kiếp.
-Tôi còn hơi no, cô ăn giúp một nửa nhá.
Và cô lại gật đầu. Chờ cô ăn xong, tôi hỏi nhỏ:
-Cô làm nghề gì?
Cô ngước nhìn, khuôn mặt nghiêng nghiêng, trâng tráo, đôi mắt lộ vẻ thách thức:
-Tôi làm gái.
Câu trả lời không ngoài dự liệu. Nhưng cách trả lời, cùng với tia nhìn khiến tôi nổi gai ốc. Vẫn bằng giọng nhát gừng, cô tiếp:
-Đi không?
Tôi lắc đầu:
-Quả thật hôm nay không có hứng thú.
-Nếu vậy làm ơn chở tôi về chỗ cũ.
-Chi vậy?
-Kiếm khách. Từ tối tới giờ lốc. Hôm qua lốc, hôm nay lốc.
-Sao vậy?
-Quá đát rồi
Giọng nói đầy vẻ cay đắng. Tôi đột ngột hỏi:
-Hồi nãy cô bỏ chạy, gì thế?
-Công an bố.
-Vậy không sợ hay sao mà dám quay lại?
Cô lạnh nhạt:
-Sợ, nhưng không thể nhịn ăn.
-Tôi có một đề nghị.
-Đề nghị gì, lẹ lên, tôi chỉ cần tiền.
-Làm người mẫu cho tôi vẽ. Tôi trả theo giá thị trường, hai chục ngàn một giờ.
-Tôi làm người mẫu à? Anh có ấm đầu không?
Có lẽ hơi khó để giải thích, tôi chậm rãi:
-Tôi không thích những khuôn mặt đẹp, hoàn chỉnh như hoa hậu, mà vô hồn. Xấu, đẹp với tôi không thành vấn đề, tôi cần những góc cạnh độc đáo, nói chung là cái hồn. Chính cái hồn của đối tượng hướng dẫn nét cọ. Thế này nhé. Tôi ứng trước cho cô một trăm, bù vào một đêm lốc. Đây là địa chỉ của tôi. Rất dễ kiếm. Sáng mai đến nhá.
Cầm vội tờ giấy bạc, gần như cướp giựt, ánh mắt cô vẫn không mất vẻ thách thức, tuy dịu lại đôi phần.
-Anh không sợ tôi xù độ à? Sáng mai tôi không đến, làm gì tôi?
-Cũng sợ đó, nhưng còn nhiều cái mất đáng sợ hơn mất tiền. Thôi về đi.
Nét mặt cô phần nào dãn ra. Và cô leo lên xe, để tôi chở về khu ổ chuột.
Sáng hôm sau, cô đến, không còn là cô gái đêm qua, áo quần giản dị, lớp phấn nhẹ làm nổi bật làn da xanh xao. Vành mắt không tô quầng, lộ chút ánh sáng, ánh sáng như đến từ một vùng rất xa, có thể từ quá khứ, khi còn hồn nhiên. Đó chính là cái tôi muốn tìm. Tôi hỏi đùa:
-Bộ không tính xù độ à?
Cô cười, nụ cười có vị ấm, tôi mới thấy ở cô lần đầu.
-Nửa muốn xù, nửa muốn tìm một cảm giác mới.
-Tôi định vẽ khỏa thân, chịu không.
Giọng cô trở lại thách thức:
-Chuyện nhỏ, với một con đĩ, có gì để ngượng.
Vậy mà lúc cởi bỏ y phục, cô như vẫn còn chút dùng dằng. Tôi thuê phòng vẽ ở ngọai thành, trên lầu hai. Hai mặt đông, tây đều có cửa sổ. Đối với dạng người mẫu không chuyên, việc ngồi bất động cả tiếng đồng hồ sẽ là cực hình. Tôi chọn cho cô một tư thế tương đối thoải mái, có điểm tựa, sát cửa sổ hướng đông. Ánh sáng ban mai lùa vào căn phòng, chan hòa. Cô ngồi ngược sáng, toàn bộ thân hình rực lên, mái tóc như bốc lửa, ánh sáng đỏ pha cam xuyên qua từng thớ thịt, từng đường cong, óng mượt như chất mật ong trong suốt, chảy dài. Điều đặc biệt, ánh sáng dường như đã thiêu cháy mọi thứ bụi bặm của đời, tôi chỉ còn thấy ở cô nét thanh khiết, mượt mà, không chút gợi dục. Mở đĩa nhạc Khánh Ly, châm một tẩu thuốc, tôi trầm ngâm chiêm nghiệm vẻ đẹp thiêng liêng thoát ra từ thân xác cô gái giang hồ, cho dù thân xác ấy đã bị thực tế cuộc sống làm cho nhàu nát, biến dạng.
Làm việc khoảng gần một tiếng, cô ngọ nguậy, có vẻ mệt. Tôi ngừng cọ, khoác cho cô tấm khăn mỏng, rồi ngồi đối diện, nhìn sâu vào mắt cô. Cô chợt hỏi:
-Cho xem chút đi.
-Không được đâu. Cô chỉ có thể xem sau khi tác phẩm hoàn tất. Buổi đầu mệt không?
-Căng thẳng và hơi mỏi.
-Rồi dần dần sẽ quen.
Công việc ngày đầu kết thúc khoảng năm giờ chiều. Tôi gật gù:
-Đi uống bia nhá. Cô uống được chứ?
-Chuyện nhỏ, có điều uống hai chai không tài nào ngủ được.
-Sao vậy?
-Chưa say hay suy nghĩ lung tung.
-Được, hôm nay không say không về.
Tôi dẫn cô tới quán bình dân bờ kè. Quán vắng, gió thoảng lạnh từ dòng kinh. Câu chuyện lan man, tôi muốn nhìn sâu vào những khoảng tối trong tâm hồn cô. Việc ấy thực sự giúp ích cho nét vẽ.
-Cô có chồng con gì chưa?
-Hai chồng một con. Đúng ra là hai đời chồng.
-Họ đâu cả rồi? Sao không đỡ đần cô?
-Chồng trước bỏ theo vợ bé, chồng sau chết rồi. Con gửi bên nội.
-Còn ba má ruột đâu?
-Cũng chết hết cả rồi.
-Tệ thật.
Tôi thay đổi đề tài:
-Tối nay có tính ra đứng đường không?
-Tạm nghỉ một thời gian.
-Sao vậy?
Giọng cô nhỏ giọt, như vị đắng cà phê:
-Thực ra chín mươi phần trăm các cô gái đứng đường không cam tâm làm đĩ. Anh có tin không?
Cô dốc cạn ly bia, rồi đột nhiên gục xuống bàn, bờ vai rung lên, tức tuởi.
-Tôi làm cô buồn à?
-Không phải đâu. Mỗi lần hơi men bốc lên đầu, tôi đều khóc. Chuyện nhỏ, anh chú ý làm gì.
Tôi đưa chiếc khăn giấy. Cô ngước lên, đôi mắt ướt sũng, đầy vẻ cam phận. Cô đột nhiên đổi giọng:
-Thôi về đi.
-Mới có hai chai mà, làm sao ngủ được.
Cô cười gượng gạo.
-Đôi khi cũng cần suy nghĩ lung tung một chút, cho đời không quá tẻ nhạt, nhàm chán.
Tôi dự tính vẽ khoảng bốn buổi, vậy mà công việc kéo dài hơn hai tuần, một sự kéo dài cố ý. Tôi vẽ hết tranh này tới tranh khác, phần lớn dưới dạng phác thảo. Bức cuối tôi chỉ vẽ duy nhất đôi mắt. Trên đầu cô đội chiếc mũ vải rộng vành, che khuất vừng trán và nửa chân mày, từ mũi trở xuống phủ kín bởi một chiếc khăn ren xanh rêu, giống như khẩu trang. Tất cả đều nhập nhòe, ánh sáng nhập nhòe, không gian cũng nhập nhòe, lạnh. Và đôi mắt hiện ra theo lối tả thực, hun hút, buồn và đẹp vô cùng. Chính ở đôi mắt người ta phát hiện ra con người thật của cô, một cô gái giang hồ, về chiều, nửa đời trôi nổi. Phải chăng đó là vẻ đẹp, vẻ đẹp ngẫu nhiên tôi bắt gặp ở phần chìm khuất bên trong xác thân bèo bọt, một ngẫu nhiên có phần may mắn.
Bức tranh đôi mắt hoàn tất, và công việc cuối cùng cũng phải kết thúc. Tôi không đủ tiền để có thể mướn cô làm mẫu dài hạn. Buổi tối cả hai chúng tôi uống bia đến say mèm. Cô lại khóc, còn tôi cười. Cô khóc trong cơn say, còn tôi thích cười trong cơn say, cười để cố làm ra vẻ cuộc đời chẳng có gì quan trọng. Và đêm ấy, lần đầu chúng tôi cùng nhau lên giường, trần trụi. Cô đáp ứng sôi nổi. Tôi cảm nhận được những rung động rất thật trong từng thớ thịt, từng hơi thở. Đó là điều xa lạ đối với một cô gái phải bán thân nuôi miệng. Lúc đã nằm yên bên nhau, cô dụi đầu vào lòng tôi, thì thầm:
-Em là một con đĩ, nhưng em cảm thấy chưa bao giờ anh đôi xử với em như với một con đĩ. Cám ơn anh.
Tôi muốn nói thật nhiều, nhưng cuối cùng chỉ ấp úng:
-Thật vậy à?
Và cô lại khóc. Và tôi lại cười, có phần gượng gạo. Buổi sáng, ngoài tiền công, tôi đưa thêm hai trăm.
-Tiền gì đây?
Qủa thật rất khó trả lời. Sau một lúc suy nghĩ, cô như chợt hiểu ra, thảng thốt:
-Té ra tôi lầm, cuối cùng anh cũng chỉ coi tôi là một con đĩ, không hơn không kém.
Cô chạy một mạch xuống cầu thang, không hề ngoảnh lại. Từ đó chúng tôi xa nhau. Và tôi biết, cô không thể sống mà không ra đứng đường. Tôi ân hận, thực sự ân hận. Lúc đó tôi chỉ nghĩ đơn giản: ngày mai công việc chấm dứt, tôi muốn giúp cô một khoản nhỏ. Tôi thực sự ân hận. Tôi tìm đến khu ổ chuột của cô, nhưng cô đi rồi, tôi tìm tới những nơi có gái đứng đường, nhưng cô vắng bóng, có thể cô cố tình tránh mặt sau những gốc cây, tăm tối. Về nhà, tôi ngồi vào giá vẽ, và khuôn mặt cô gái giang hồ hiện ra, và đôi mắt cô gái giang hồ hiện ra, không chút bụi vẩn.
Thế rồi tôi gặp lại cô, sáng ba mươi tết. Có lẽ niềm vui của tôi lộ ra nét mặt. Đi cùng với cô là một bé gái khoảng sáu, bẩy tuổi.
-Con gái tôi đó, con chào bác đi.
-Cháu tên gì?
-Con tên Ngọc.
Tôi xoa đầu con bé, nó thực sự dễ thương, đặc biệt đôi mắt rất giống mẹ, đen, to và sâu. Hình ảnh hai mẹ con ríu rít bên nhau thoát ra sự ấm áp của cuộc sống, sự ấm áp bình dị mà ta luôn mong chờ. Cô có vẻ ngượng ngùng:
-Có việc này, tôi không thể nhờ ai khác ngoài anh. Tôi không có bạn.
-Sẵn sàng, chúng mình là bạn mà, đúng không? Nếu giúp được, tôi không bao giờ tiếc công.
-Sáng nay nếu anh rảnh, ráng đi với tôi một buổi.
Và cô dẫn tôi ra ngoại thành, vùng Thủ Đức. Nằm cuối con hẻm ngoằn ngoèo là một khu nhà có vười cây bao quanh, Nhà nuôi người già neo đơn. Tôi cười đùa:
-Bộ cô tính đi làm công tác từ thiện à?
Cô không trả lời, chỉ cúi đầu thật sâu, có vẻ suy nghĩ mung lung.
Vào gần tới cửa, tôi chợt nghe nhiều tiếng gọi ríu rít, tiếng ngọng nghịu, trong như giọng trẻ thơ: Ngọc ơi, vô ngoại biểu. Con bé dựt tay mẹ, chạy ùa vào phòng. Căn phòng kê khoảng mười chiếc giường đơn. Không có trẻ thơ, chỉ có các cụ già, móm mém, bệnh hoạn. Tiếng trẻ thơ phát ra từ những con cưởng, treo trên đầu mỗi giường, cưởng luôn miệng gọi tên những người thân của các bà cụ gần đất xa trời, gọi tên để thấy gần, gọi tên để bớt nhớ.
Cô dẫn tôi tới giường một cụ già, cụ nằm mặt ngửa lên trời, mắt như đứng tròng, bất động.
-Má tôi đó.
Tôi hỏi nhỏ:
-Sao cô nói ba má cô chết cả rồi.
Cô nhìn tôi, im lặng. Bà cụ như choàng tỉnh, cố chống tay ngồi dậy:
-Loan đó hả? Ngọc đâu?
-Con nè ngoại. Con đem qùa tết đến cho ngoại nè.
Bà cụ nắm chặt bàn tay con bé:
-Ngoại nhớ con muốn chết. Càng gần tết càng nhớ. Gặp con, ngoại mừng hết biết.
-Mẹ con mắc làm, con mắc học, không lên thăm ngoại được.
Bà cụ quay sang tôi:
-Ai vậy con?
Cô vụt nói, đầu cúi thấp, âm sắc có phần gượng gạo:
-Bạn trai con đó. Tụi con tính ra tết làm đám cưới. Ráng sống nghe má.
Tôi đỏ mặt ấp úng:
-Bác cố giữ gìn sức khỏe.
Cô chợt ngước nhìn tôi, đôi mắt muôn vàn khẩn khoản, tha thiết. Tôi hiều, và nói thật nhanh:
-Má đừng lo, con sẽ quan tâm chăm sóc em Loan và bé Ngọc thay má.
Tôi nghe tiếng thở dài của cô, tiếng thở dài như trút đi muôn vàn gánh nặng.
Bà cụ nắm tay, vít đầu tôi xuống, nhìn chăm chú, đôi mắt đục như ruột nhãn.
-Cảm ơn Trời Phật, má yên tâm rồi.
Bà cụ lại nhìn lên tràn nhà, nín lặng, nước mắt ứa ra, chảy dọc thái dương. Tự nhiên tôi ao ước có một luồng gió mát, một mùi hương nhẹ của hoa ngọc lan, gió và hương rất hiếm khi tỏa ra từ cuộc sống vốn dĩ ngột ngạt. Bé Ngọc leo lên giường nắm với bà ngoại, chẳng bao lâu cả hai chìm vào giấc ngủ, yên lành. Tôi thấy ở đó sự sống đang vươn lên từ cõi chết. Loan nắm tay tôi, nhẹ nhàng dắt ra vườn.
-Xin lỗi anh ngàn lần, em đã xúc phạm anh, em cũng cám ơn anh ngàn lần.
-Em nói gì lạ vậy, chúng ta là bạn mà.
-Anh có thấy xấu hổ không, bạn với một con đĩ?
Tôi nắm chặt tay cô, đó chính là câu trả lời. Cô tiếp:
-Má em được gởi vào đây lúc em bị bắt đưa lên trung tâm phục hồi. Không nuôi nổi má, em thực sự khổ tâm, bởi thế mỗi khi ai hỏi, em đều bảo má đã chết. Em nói dối anh, còn dối trá anh nhiều điều. Giận không?
Tôi thở dài:
-Con người cư xử với nhau, có bao nhiêu phần là thật. Sự bất lực trước cuộc sống khiến chúng ta thường xuyên phải chọn giải pháp nói dối, chính vì thế từ lâu anh đã đánh mất thói quen lên án người khác.
Cô nhìn tôi rưng rưng:
-Cám ơn anh. Anh có thể về. Em làm phiền anh như thế đã đủ. Anh có thể về rồi.

Friday, October 12, 2007

BẢN HỢP ĐỒNG

Vũ lưu xuân

Cuối cùng người ấy cũng đã chết, năm ba mươi bảy tuổi. Chẳng biết nên gọi cô ta bằng gì cho đúng? Con gái hay đàn bà? Cô ta chưa chồng, nhưng đã từng làm vợ hờ khắp người ta. Cái chết đến bất chợt: tự tử. Chúng ta không có quyền chọn lựa nơi sinh, nhưng có quyền chọn lựa cách kết thúc một cuộc đời. Đó là cơ may cuối cùng, khi phải đối diện với sự nghiệt ngã của số phận.

Tối thứ sáu, cô ta còn ngồi cạnh tôi, bên cửa sổ, khuôn mặt dãn ra, thoáng nét vui hồn hậu. Tôi đã ngồi cạnh cô ta, lẩm cẩm triết lý về cuộc đời, giống như hồi mới lớn, còn đầy ắp niềm tin. Vậy mà sáng thứ hai đã thấy cô ta nằm đấy. Sáng thứ hai tôi tối sớm, chắc cô ta còn ngủ, tôi không gõ cửa, lặng lẽ mở khóa vào phòng. Tôi thấy cô ta nằm đó, trên tấm drap trắng lạnh lẽo, mắt nhắm nghiền như người còn ngủ, miệng thoáng nụ cười như người đang mơ. Giấc mơ nào đã đến cùng lúc với cái chết?

Cô ta để lại một lá thư tuyệt mạng, kèm theo kết qủa xét nghiệm ung thư. Cô không muốn tôi bị pháp luật làm khó dễ, vì đây là cái chết tự nguyện. Cô viết cho tôi lá thư khác, nó là dấu chứng cuối cùng của một đời người.

Tôi nhờ hàng xóm báo công an, rồi ngồi đợi cạnh xác cô ta, giữa ranh giới sự sống và cái chết. Cái chết hoang đường, giống như cuộc sống cô ta vốn dĩ hoang đường. Tôi nhìn cô ta trừng trừng, có nhiều điều muốn hỏi. Cuối cùng tôi mở lá thư ra đọc. Tôi không bật điện phòng, tôi thích đọc thư trong cảnh sáng tối lờ mờ, để lỡ có nhỏ vài giọt nước mắt, cũng khỏi phải xấu hổ với chính mình.

Anh thân yêu!

Lần cuối cùng anh cho em lạm dụng từ “thân yêu”. Vốn dĩ giữa chúng ta chỉ có bản hợp đồng sòng phẳng, không có tình cảm.

Trong cuộc sống, bọn em có quá ít sự chọn lựa. Sau nhiều đêm đắn đo, em thấy cái chết là chọn lựa đúng nhất, nó giúp cho em khỏi phải chịu đựng những cơn đau chắc chắn sẽ đến nay mai, và chấm dứt mọi ảo vọng trước khi phải đối mặt với sự thật trần truồng.

Sáng thứ năm, em đã cầm trong tay kết qủa xét nghiệm: ung thư vú. Phía dưới ngực trái em bắt đầu u lên một cục nhỏ. Chắc anh không biết, mà có lẽ anh cũng chẳng cần biết. Hôm ấy em gặp con bạn cũ lúc còn đi học. Nó rất thành đạt, chồng nó cũng thành đạt, gia đình giàu sang, hạnh phúc. Vậy mà nó cũng bị ung thư, nó đã xạ trị nhiều lần, đã phải cắt bỏ một bên vú. Tốn kém thuốc men, phẫu thuật trên dưới hai chục cây. Hiện thời cứ mỗi nửa tháng, nó phải chi mười ba triệu cho một toa thuốc. Dù vậy cuộc sống cũng chỉ kéo dài vài năm. Nó sẽ chết, bỏ lại sau lưng những năm tháng hạnh phúc đã hưởng. Cái chết là sự bình đẳng duy nhất trong xã hội loài người. Em cũng sẽ chết, thời hạn ngắn hơn, trong những cơn đau vật vã, vì hiện tại với em, mười ba triệu là số tiền trong mơ. Anh thấy đó, cái chết chính là sự lựa chọn khôn ngoan của đứa con gái vốn dĩ ngu đần. Nhưng em sẽ để lại những gì sau lưng?

Sáng thứ sáu anh đến, em xách giỏ đi chợ, em muốn thử tìm cảm giác làm vợ, dù chỉ một lần. Em khao khát cảm giác làm vợ và làm mẹ. Chắc anh cười em là đồ dở hơi. Thật ra những việc làm dở hơi đôi khi lại rất cần để trang trí cho cuộc đời tối tăm.

Tối thứ sáu ngồi bên nhau, em thấy anh thật khác. Chúng ta thực sự rất khác với chiếc mặt nạ đời thường, vậy mà vẫn không can đảm cởi ra. Những lời tâm sự của anh hé cho em một chút ánh sáng, có thể là ảo tưởng, em hài lòng, con người sẵn sàng tự lừa dối mình bằng thứ ảo tưởng ngọt ngào.

Thứ bảy, chủ nhật anh không tới, đó là hai ngày anh ở nhà vui với con cháu. Hôm ấy, lần đầu tiên em cảm thấy trống vắng hoàn toàn. Tối chủ nhật, em đi đến quyết định cuối cùng. Em chết không ân hận vì đã có một ngày vui, một ngày vui quá đủ cho cả cuộc đời. Em vui vì thấy giữa chúng mình hình như không chỉ tồn tại một bản hợp đồng. Em vui vì thấy hình như giữa con người, tương quan không chỉ đơn thuần là cuộc đổi chác…

Lá thư còn dài, nhưng tôi không thể đọc tiếp, tôi rất mệt, gục xuống. Cuối cùng, một người công an vỗ vai đánh thức tôi dậy. Sau khi khám xét thật kỹ hiện trường, xác cô ta được chở đi. Tôi đứng nhìn xác cô ta được chở đi. Tôi trả lời những câu hỏi một cách lơ mơ, hơn nửa tiếng đồng hồ, ký không biết mấy tờ biên bản. Trước pháp luật tôi vô tội, nhưng tôi cố gắng đi tìm cảm giác vô tội ở một phạm vi khác, không phải pháp luật, một cố gắng nhọc nhằn trong nỗ lực tự lừa dối mình, để lương tâm vốn đã hao mòn tìm được chút nghỉ ngơi.

Cuộc đời tôi chia làm hai giai đoạn rõ rệt. Bốn mươi năm đầu cũng học, cũng làm, cũng lấy vợ, sinh con. Nhưng bốn mươi năm ấy nhạt phèo như nước ốc. Tôi xếp nó vào rương, khóa lại, không bao giờ đụng tới nữa. Từ bốn mươi tới sáu mươi, hoàn thành một cuộc đổi mới, với những vụ đầu tư một vốn mười lời. Vụ đầu chạy ngược chạy xuôi kiếm mối vượt biên, nhét được hai đứa con trai, đứa thứ ba tốn hai cây vay mượn bà con. Vài năm sau, chúng bắt đầu gửi tiền về, lúc đầu chút ít, về sau tăng dần. Ngày vợ tôi còn sống, mỗi đứa gửi ngàn rưởi đô năm, còn hùn nhau mua cho bố mẹ căn lầu dưỡng lão. Năm năm sau này, vợ tôi chết, số tiền rút xuống còn một ngàn đô. Phong lưu chán. Vụ đầu tư thứ hai dành cho đứa gái út, lúc nhỏ đầu tư cho nó một ít chữ nghĩa, lớn lên đầu tư một ít nhan sắc. Cuối cùng nó lấy được anh giám đốc, bằng cấp chẳng biết thật hay giả, nhưng gốc rất lớn. Thỉnh thoảng tụi nó biếu bố ít tiền tiêu vặt, bét ra cũng hai đồng cứng. Khi dọn tới căn phố lầu ở khu biệt thự, xa hẳn xóm ổ chuột, chui rúc gần hai mươi năm, hàng xóm không ai dám nghĩ tôi là anh ký cóp chế độ cũ và dân chợ trời chế độ mới. Hiện nay tôi còn giữ được lá số tử vi của mét Khánh Sơn. Phía trái, trên cùng tờ số in đậm khuôn mặt câng câng của mét, bên dưới là hàng chữ khoe khoang mét đã từng coi tướng cho thái tử Norodom Xihanuc và cựu hoàng Bảo Đại. Đại khái mét phán hai điều: từ năm bốn mươi, đời tôi sẽ sang trang mới, bay bổng như diều. Thánh thật! Điều sau mét phán tôi có hai dòng con. Vấn đề này còn xét lại, hiện thời chưa đúng. Mà tôi gần sáu mươi rồi, vui chơi thì có, con cái làm gì cho bận. Từ ngày vợ chết, tôi ở một mình, trong căn nhà lớn, vắng vẻ. Ba thằng con trai xa nhà. Đứa con gái út ở với chồng. Thứ bảy, chủ nhật nó dẫn mấy đứa nhỏ về chơi vơí ngoại. Thời gian còn lại, tôi tự do như gió.

Đây là chân dung tôi lúc ra đường: ngự trên Giấc mơ II, tóc nhuộm đen, xịt keo láng mượt, miệng cắn tẩu Dunhill nhồi Half-and-half, áo thun cá sấu, quần Jean chính hiệu từ Mỹ mang về, giày Adidas trắng. Chả biết người lịch lãm có cười tôi nửa nạc nửa mỡ hay không? Còn bọn gái trẻ trong quán cà phê lúc nào cũng anh em ngọt xớt. Thế là đủ, rất đủ. Tôi gặp cô ta trong hình ảnh ấy. Thằng bạn già giới thiệu trong một quán ăn hạng sang:

-Đan Thanh.

Nó không giới thiệu nghề nghiệp, mà tôi cần quái gì biết đến nghề nghiệp, cần quái gì qúa khứ. Nhìn dáng dấp bề ngoài, tôi đoán chừng cô ta là một ca ve về chiều, ngoài ba chục. Nhan sắc này lúc sáng giá có thể chấm 8/10, bây giờ hơi xuống cấp, bớt đi hai phân, còn 6/10. Gã bạn ghé tai cô ta:

-Cái mỏ này đất xốp, dễ đào.

Tôi nghe nhưng kệ xác. Lát sau nó lại nói nhỏ với tôi:

-Chịu không? Rất điệu nghệ.

Tôi nghiêng đầu quan sát thật kỹ: mình dây, chân dài.

-O.K.

Nhưng với tôi lúc nào cũng phải có bản hợp đồng, sòng phẳng:

-Bên A chịu tiền mướn nhà, cơm nước tuần ba ngày: hai, tư, sáu, giá hai đồng cứng. Cơm thường, muốn ăn sang, chi ngoài.

-Bên B, điều kiện tiên quyết không được nhiễm HIV dương tính, không được tiếp ai khác ngoài tôi.

Khoản này kê ra cho có, nếu thỉnh thoảng nó muốn cải thiện với ai, mặc xác, ghen gì.

Hợp đồng tạm thời kéo dài ba tháng, có hiệu lực sau kỳ xét nghiệm, và cuộc xét nghiệm xảy ra tức thì, ngay sáng hôm sau. Cô ta thản nhiên đền lạnh lùng, còn tôi cần quái gì biết đến tình cảm cô ta. Thương thảo hợp đồng không cần sự hiện diện của trái tim.

Ba hôm sau có được tờ xét nghiệm, âm tính. Tôi dẫn cô ta đi mướn nhà, đúng ra là căn phòng lầu ba, kiểu apartment, bảy trăm ngàn tháng, khoảng 15 mét vuông, bếp, nhà vệ sinh riêng. O.K. Tôi xỉa ba tháng cọc, cho thêm cô ta hai ngày chuẩn bị nhà mới. Hai hôm sau tôi đến, phòng trống tuênh. Ngoài mấy món chủ cho mượn: một chiếc tủ hạng xoàng, một bàn, hai ghế, một giường nệm, cô ta chỉ mang theo chiếc vali cũ.

-Em không có gì à?

Cô ta vẫn thản nhiên:

-Còn cần gì nữa?

-O.K. Chỉ cần một chiếc giường tốt là đủ.

Sau khi thực hiện xong mục chính của bản hợp đồng, tôi gật gù:

-Hết ý, anh chịu. À quên, em tên gì nhỉ?

-Đan Thanh.

-Đan Thanh này, đàn bà con gái tối thiểu cũng phải có ông cố vấn sắc đẹp.

Tôi dẫn cô ta tới Ngô Gia Tự, sắm một cái bàn phấn có ông cố vấn sắc đẹp bóng loáng, hình bầu dục.

Từ đó theo đúng hợp đồng, mỗi tuần tôi đến ba ngày. Ngoài việc chiều chuộng, cô ta có vẻ ít nói. Cần gì. Điều hơi chán, chắc cô ta không biết nấu ăn, mỗi lần tôi đến đều kêu cơm phần. Tôi ở từ sớm đến tối, buổi chiều dẫn nhau ra tiệm.

Ngày cuối cùng của tháng thứ ba, tức là sau đó cô ta phải xách vali trở về nhà trọ vách ván, cô ta nhìn tôi thở dài không nói. Khi thấy tôi móc tiền chi tháng thứ tư, mặt cô ta dãn ra, trong dáng điệu ngậm ngùi, chịu đựng. Lần đầu tiên sau ba tháng, tôi nhìn sâu vào đôi mắt cô, tôi nhận ra sự chịu đựng, cay đắng. Tuy nhiên, không thể vì vậy mà quan hệ đôi bên được cải thiện. Tôi luôn sòng phẳng, có vẻ còn hơi rộng rãi. Căn phòng đã có tivi, đầu máy, tủ lạnh, những chi tiết không hề ghi trong hợp đồng. Sau đó hợp đồng cứ gia hạn tháng một, có lẽ hơn một năm rồi. Con gái tôi nhiều phen đến nhà không gặp, lâu dần đâm nghi. Một hôm nắm tay tôi nó bảo:

-Mẹ chết lâu rồi, bố muốn lấy vợ cũng được, trẻ cũng được, bắt con gọi bằng dì xưng con cũng được, thậm chí bố cho cô ta cả căn nhà này cũng được.

Nó không nói tiếp để tôi tự hiểu lấy, chứ bố đừng đi lang bang, mất tư cách. Nó là đứa con gái dịu dàng, suốt đời không muốn xúc phạm ai, vậy mà hôm ấy nó đã thốt lên:

-Sự tự mãn làm bố hư hỏng dần dần.

Tôi giận đuổi nó về. Nó rất ngu, sự tự mãn là quyền của người giàu, bất kể số tài sản ấy do đâu mà có. Đúng, nó rất ngu. Tôi bỏ một kỳ không đến. Sáng thứ sáu lúc tôi tới, hơi sớm hơn mọi lần, cô ta đang sửa soạn, rất giản dị.

-Em định đi đâu?

-Em đi chợ, em muốn thử tìm cảm giác làm vợ.

Cô xách giỏ, đội nón, mặc quần đen, áo bà ba trơn.

Tôi nhìn theo, rất lạ. Tôi nghĩ bụng: đồ dở hơi, nhưng không nói ra miệng.

Một mình nằm dài trên giường, căn phòng hẹp, chật cứng, nhưng tôi vẫn thấy có những khoảng thừa thãi, trống rỗng. Hình như thiếu cái gì. Tôi nhìn quanh: tủ lạnh, tivi, bàn phấn, đủ cả, nhưng hình như vẫn còn thiếu cái gì. Một ý nghĩ thoáng qua, tôi ngắt ngang, không thèm nghĩ nữa, đồ dở hơi, chẳng lẽ hôm nay lại có tới hai đứa dở hơi? Lúc cô ta đi chợ về, tôi dựa lưng vào thành giường, ngắm cô ta làm bếp. Rất bận rộn, tất bật, tiếng dao thớt, tiếng nồi niêu, chén bát. Ngồi vào bàn, tôi lấy trong tủ lạnh hai lon bia.

-Chúc mừng.

Đôi má cô hồng rực, không phải phấn, tại hơi bếp, mắt long lanh.

-Chúc mừng.

Cũng chẳng biết chúc mừng gì. Đồ ăn nêm nếm món mặn, món lạt, không ra sao, nhưng từ khi vợ chết, tôi rất ít khi được hưởng không khí gia đình, ăn vớ vẩn cũng thấy ngon. Tôi khui thêm bia, uống tới say mèm. Buổi chiều ngủ dậy muộn, gật gù:

-Hồng Phát?

-Thôi, bổn cũ sao lại.

Lại hâm cơm, hâm canh, lại vẫn món mặn món lạt, nhưng ăn vẫn thấy ngon.

Cả ngày hôm ấy tôi không làm công việc chính của bản hợp đồng. Buổi tối, chúng tôi ngồi bên cửa sổ. Căn phòng có một cửa sổ trông ra những mái nhà lổn nhổn, cái cao, cái thấp, không thấy vườn hoa, không thấy cây xanh, tức là không có khung cảnh tạo ra cảm giác thơ mộng. Tôi cười:

-Như đôi vợ chồng già.

-Được vậy đã tốt.

Tôi nhìn sững cô ta, lời nói nửa phần cay đắng. Đêm đó cả hai ngồi thơ thẩn đến khuya. Đây là lần đầu tiên sau hơn một năm chung sống, chúng tôi ngồi bên nhau đến khuya, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ. Tôi ghét suy nghĩ, suy nghĩ khiến người ta mau già, nhiều khi lại khổ tâm vô ích. Vậy mà trong không gian vắng lặng, rất nhiều ý nghĩ thoáng qua, hỗn độn, mâu thuẫn. Tôi nghĩ nhiều nhất tới người con gái đã chung sống với tôi theo bản hợp đồng. Người con gái ấy không thể có trái tim, tôi cũng không có trái tim, chỉ có những toan tính rất lạnh lùng, thực dụng. Người con gái ấy đang ngồi nhìn trời, bất động. Trời có trăng, có sao. Tôi chỉ:

-Sao xẹt, người ta bảo mỗi ngôi sao xẹt cho một ước mơ, nếu biết cầu xin thật nhanh.

-Vớ vẩn, lúc rất trẻ, ngồi trên sân thượng, em đã cầu xin nghìn lần.

-Em cầu gì vậy?

-Em cầu cho cha mẹ bình yên, em thi đậu, gặp người yêu lý tưởng, người yêu trở thành người chồng, có một gia đình hạnh phúc, hai đứa con bụ bẫm, những ước mơ rất thật đối với mọi người con gái, nhưng lại hóa hão huyền. Ngàn điều xin không được một điều. Vớ vẩn!

-Ngày xưa em cũng đi học à?

Lần đầu tiên tôi hỏi đến qúa khứ.

-Em học Saint-Paul, hết Seconde thì giải phóng. Bố em làm thiếu tá, chết đang khi học tập.

Tôi gật gù:

-Té ra em học trường Tây. Vậy từ đó đến giờ, đã lần nào em chính thức lập gia đình chưa?

-Chưa hề, bởi thế đôi lúc lẩn thẩn, em thèm cảm giác làm vợ, mặc dù lúc đói, em đã cam làm vợ hờ khắp người ta.

-Vậy trong những ngày ấy, em có đứa con nào không?

-Không hề. Em cũng thèm cảm giác làm mẹ.

-Sao em không lập gia đình đi?

-Anh thích nói đùa. Hồi nhỏ em hay đọc tiểu thuyết của Sagan.

-Trong đó có Bonjour tristesse?

-Tất nhiên, cả Quỳnh Dao nữa, qua bản dịch của Liêu Quốc Nhĩ. Những mối tình trong đó dù cay đắng đến đâu cũng vẫn đẹp, dù buông thả, phóng túng đến đâu cũng để lại dư vị của sự tận hiến, sống đến tận cùng cảm xúc của mình. Như vậy còn hơn sống lần lữa như cỏ cây, nhạt nhẽo, vô vị.

Lần đầu tiên, tôi thấy giao động giữa tình người và sự hưởng thụ lạnh lùng. Trong một phút thiếu tự chủ, tôi đâm ra dông dài:

-Kinh Thánh có chép một câu chuyện: Lúc đó bọn giả hình muốn ném đá người đàn bà tội lỗi, Chúa bảo họ: Ai là người vô tội, hãy cầm viên đá đầu tiên ném người đàn bà này. Câu nói đó xác định tư thế hiện sinh của chúng ta. Bản chất con người vốn bất túc, bởi thế chúng ta luôn bị đặt trong một tư thế chênh vênh, rất khó vươn lên mà dễ dàng rơi xuống. Từ tư thế ấy, chúng ta phải khoan dung mỗi khi phán xét. Đan Thanh này! Nhắc đến chuyện Kinh Thánh, anh không hề muốn ám chỉ em, thật đó.

-Nhưng chính vì sự khoan dung, người ta trở nên quá dễ dãi với mình. Có lúc em tự hỏi, đói và rét là hai cái cớ thường được dùng để tự bào chữa, thực sự nó có chính đáng không?

-Điều nghiệt ngã là trong một thế giới còn bất công, chúng ta có qúa ít sự lựa chọn, bởi thế ranh giới giữa tôi phạm và nạn nhân, không phải lúc nào cũng rạch ròi.

Nói tới đây, nghĩ lại, tôi chợt bật cười, tôi đã lải nhải bằng giọng điệu triết gia nửa mùa với một em ca ve về chiều. Đó là suy nghĩ của tôi ba bốn chục năm về trước, đã lạc hậu, rỗng tuếch, chỉ đủ sức lừa gạt bọn nhẹ dạ, bây giờ nó khác rồi, nó thực dụng, lạnh lùng và sòng phẳng. Giữa tôi và cô ta là một cuộc chơi sòng phẳng, cả lúc đến cũng như lúc đi, không ai nợ ai, bởi thế không bao giờ có chỗ cho tình cảm chen vào. Tôi nhìn lại cô ta, lúc ấy đèn trong phòng đã tắt hết, chỉ có ánh trăng mười sáu xuyên qua cửa sổ. Tôi nhìn kỹ nhan sắc đã từng chấm 6/10, nhìn kỹ cô gái tôi đã gia hạn hợp đồng mỗi tháng. Nhan sắc không son phấn có vẻ tiều tụy, chỉ đáng 5/10, nhưng cô gái ấy đang nhìn tôi bằng đôi mắt rất thật, đôi mắt rất muốn tha thiết mà vẫn ngượng ngùng không dám. Nó không phải đôi mắt bên B. Cô bỗng cười ảm đạm:

-Em tuổi ngựa, ngựa què, mã cùng đồ.

-Vậy em kém anh gần hai giáp.

-Tên thật của em là Nguyễn Thị Ngọ. Đan Thanh là tên giả, cũng như lông mày, lông mi giả, mũi giả, ngực giả, mông giả, thậm chí có cô răng giả, tóc giả. Chúng ta đến với nhau toàn bằng của giả.

-Đúng, chỉ có tâm hồn là thật, nhưng nó lại xa cách nhau cả ngàn trùng.

Tự nhiên tôi kéo đầu cô ta vào lòng, xiết chặt đôi vai run rẩy. Tôi đã từng ôm cô ta cả trăm lần, nhưng bằng tư thế khác, tư cách khác. Tôi dịu dàng vuốt mái tóc uốn cong đã duỗi. Tôi nhìn lại bàn tay, nó không phải bàn tay đen đúa tham lam. Tôi hôn thật nhẹ lên mái tóc, lên vầng trán, lên đôi mắt, đôi mắt ướt sũng để lại vị mặn ở đầu môi, cũng không phải đôi môi tham lam. Tôi bỗng rùng mình rất sợ, sợ cho tuổi sáu mươi vẫn còn vụng về, dại dột. Tôi đã đi quá xa, không đúng tư cách bên A trong bản hợp đồng. Tôi đứng dậy, bỏ về.

Trên đường, tôi ghé quán cà phê nhạc, nhạc xập xình, tiếng hát chí chóe như đám cãi nhau. Một em tiếp viên trên dưới hai mươi ngúng nguẩy nhìn tôi cười tình.

-Anh dùng gì?

-Bất cứ món gì mát mẻ em bán.

Lát sau cô ta quay lại, cúi xuống đặt ly cà phê, chiếc áo ba lỗ đủ cả vòng một, vòng hai.

-Chắc anh mới tới lần đầu?

-Có lần đầu mới có lần hai, lần ba.

-Thật nhé.

-Được, tôi sẽ thương lượng với bà chủ mua đứt chiếc ghế này, để tối tối tới đây ngồi đồng, chịu không?

-Chịu gấp.

Lúc về, tôi đưa tờ hai chục.

-Khỏi thối, để mai uống trừ.

-Nhớ nhé, đừng để người ta phải đợi.

Lần đầu tiên tôi thấy lạnh gáy, già rồi. Đúng ra bố nó phải gọi tôi là anh, hoặc tôi phải gọi ông nội nó bằng anh. Ở đâu cũng có thể bắt gặp nỗi đắng cay của cảnh đói nghèo. Ý nghĩ đó khiến tôi lại nhớ đến cô ta. Lạ thật, tôi bỗng nhớ cô ta da diết, không nguôi.

Bây giờ cô ta đã chết, sáng thứ hai tôi đến, cô ta đã chết.

-À quên, em tên gì nhỉ?

-Đan Thanh.

Đan Thanh tồn tại va biên mất giữa một thế giới thừa thãi sự tiến bộ, nhưng thiếu hụt tình người. Cô sống như cỏ cây, như hạt bụi đọng.

-Đan Thanh là tên giả. Chúng ta đến với nhau toan bằng của giả.

Quan hệ giữa người với người, cùng những dự phóng tương lai là chất dính kết chúng ta vào cuộc sống.

-Em đùng quên giữa chúng ta chỉ có bản hợp đồng.

Tôi nhớ lại câu cô ta đã viết: Nhưng em sẽ để lại những gì sau lưng? Tôi không trả lời, rất sợ tìm câu trả lời. Tôi bỗng nhớ cô da diết.

Buổi tối, tôi trở lại căn phòng trọ. Tôi rất muốn gõ cửa,nhưng lại cay đắng biết rằng phía sau đó là một thế giới không con ngươì, là cõi hư vô. Căn phòng vắng ngắt, lạnh vô cùng. Buổi sáng cô ta còn nằm đây. Tôi leo lên giường, thử đặt mình vào vị trí cô ta đã nằm, vị trí của cái chết. Tôi nhắm mắt lại, thử tìm cảm giác của cái chết. Tất cả đều lờ mờ. Sáng tối lờ mờ chính là không gian hiện sinh. Từ đâu đó lãng đãng vọng lại tiếng hát Khánh Ly, tiếng hát lênh đênh, ma quái trong một không gian ma quái, không gian có chiều thứ tư của nội tâm dằn vặt.

Hỡi người yêu dấu! Bản hợp đồng đã kết thúc, vĩnh viễn kết thúc. Tới lúc này anh mới biết giữa chúng ta không chỉ tồn tại một quan hệ sòng phẳng, lạnh lùng.

17.2.2000