Sunday, November 18, 2007

TRỌNG THỦY




Vũ Lưu Xuân


Trước mắt các sử gia Chính Thống, Trọng Thuỷ luôn bị kết án là tên gián điệp. Nay xin được nhìn nhân vật này như một con người.

Dưới ánh trăng lãng đãng, một bóng người đứng sững trên đỉnh núi cao, mắt dõi về cuối trời Nam. Trời Nam trải rộng hun hút dưới kia. Hình như người đó vô cảm trước ngọn gió cắt da xẻ thịt của núi rừng phương Bắc.

Một giọng nhỏ nhẹ vang lên phía sau.

- Phụ thân ! Suốt mấy tháng ròng, đêm đêm người đứng chôn chân một chỗ. Chẳng lẽ dưới kia có gì hấp dẫn lắm sao?

Tiếp đó là một khoảng khắc yên lặng nặng nề, rồi một giọng chớm già trầm đục chậm rãi cất lên:

- Dưới ấy ư? Đó là một giải bình nguyên trù phú, đất bằng vạn dặm, sông rạch dọc ngang. Bình có thể tận lực canh tác, tích thảo đồn lương phòng khi hữu sự. Chiến có thể mượn dải núi trùng điệp phía Bắc làm thành cao án ngữ. Mượn sông rạch làm phương tiện tiến lui. Mượn biển cả rút nhanh về hậu cứ chờ thời. Mượn thế thủy triều lên xuống, triền nước quanh co làm chỗ phản công diệt địch.

Tiếng thở dài ngắt ngang. Bóng người từ từ quay lại, ánh trăng vừa đủ sáng để nhận ra một khuôn mặt đứng tuổi đượm vẻ khắc khổ, phong trần, đặc biệt là đôi mắt, đôi mắt lấp loáng, đảo lộn của một tay gian hùng thời loạn.

Người đứng tuổi chỉ tay vào phiến đá :

- Thủy nhi ! Con ngồi xuống đây.

Chờ cho chàng trai yên vị, người đứng tuổi chậm rãi :

- Con thấy ta là người thế nào ?

- Đánh đuổi bọn Trưởng lại nhà bạo Tần, gồm thâu ba quận, quay về phương Nam mà xưng vương, cũng có thể nói tâm nguyện đã hoàn thành.

- Tầm mắt của con hạn hẹp thế sao ? Rẻo vườn dăm trượng chỉ đủ chỗ cho loài di, loài sẻ mặc tình bay nhảy, nhưng còn chim Hồng, chim Hộc ? Ta ư ? Xuất thân làm một chức lệnh nho nhỏ ở huyện Long Xuyên. Nhờ ơn tri ngộ của Nhâm Ngao bá, mà kế thừa chức Nam Hải quận uý, rồi lấy đó làm bàn đạp, tiến chiếm Quế Lâm, Tượng quận. Đối với đứa ngu phu, có thể coi là tâm nguyện một đời. Nhưng xét kỹ đại cuộc thì sao? Từ khi đánh đuổi bọn Trưởng lại bạo Tần, ta với triều đình Hoa Hạ đã thành thế nước lửa.

- Phụ thân ! Nay nhà Tần đã mất.

- Sở, Tần với Hán, dòng họ tuy khác, nhưng dã tâm thì cũng giống nhau. Hiện thời nhà Hán cơ đồ chưa vững, lại thêm cái nạn Cao hậu họ Lã (1) tiếm quyền, buông rèm nghe việc chính sự, nên chưa đủ sức hưng sư vấn tội phiên bang. Nhưng nếu cứ tử thủ ở chốn hoang vu này, ắt không phải là kế sách lâu dài. Con có biết Lục giả (2) không ? Hắn đã tìm tới ta rồi đó.

- Phụ thân ! Hài nhi hiểu rồi. Cái cơ sinh tồn chính là dải đất bằng vạn dặm dưới kia.

Lão ngửa mặt nhìn trời.
- Triệu Đà ơi ! Triệu Đà ! Anh hùng sao không có đất dụng võ ?

- Phụ thân ! Chẳng lẽ gồm quán ba quân chưa đủ mạnh sao ?

- Hẳn con còn nhớ, ta với Nhâm bá bá, kẻ bộ người thủy đã từng là bại tướng dưới chân Cổ Loa thành.

- Cổ Loa thành, thành hình trôn ốc, chẳng hay có gì đáng sợ ?

- Chạ Chủ (3) 32 nghìn hộ dân, kiến trúc dựa vào thiên nhiên : mượn thế sông Hoàng làm hào sâu án ngữ; mượn hệ thống ngòi rạch làm thủy đạo tiếp ứng giữa ba vòng thành nội, ngoại và trung; mượn địa hình cao thấp mấp mô làm chỗ mai phục cung nỏ. Cao Lỗ (4) quả là danh tướng giỏi phép đắp lũy dàn quân. Huống hồ... còn... Linh quang kim trảo thần nỗ.

Lão lại thở dài ngắt ngang.

Chàng tuổi trẻ rụt rè :

- Chẳng lẽ bậc hùng tài như phụ thân cũng đành bó tay, bất lực ?

Lão nhìn sâu vào đôi mắt chàng trai, giọng ngập ngừng:

- Ta có một kế sách, nhưng nếu đem ra thực hiện, ắt phải khuất tất con rồi.

Đột nhiên lão phất tay áo rộng:

- Xuống thôi.

o0o

Giữa Loa thành nghìn dặm vuông, quán xá mọc lên san sát. Thiên hạ có vẻ thái bình. Trong quán rượu rực rỡ ánh đèn, khách khứa vào ra tấp nập. Bỗng từ giữa quán, một gã trung niên bề ngoài có vẻ thô hào dằn mạnh ly rượu xuống bàn.

- Cái tin người đẹp Loa thành kết duyên cùng gã mặt trắng phương Bắc hóa ra là sự thật.

Một giọng bông đùa :

- Ngươi tiếc lắm sao ?

Gã trợn mắt:

- Thiên hạ thiếu chi gái đẹp. Điều ta lo là mối nguy rước giặc vào nhà. Ba xe ngọc cơ, vàng bạc, bảy xe vải lụa Quý châu, lại thêm một đoàn mỹ nữ. Giọng gã sang sảng, chói tai. Quốc quân ơi ! Người há chẳng thấy đó là cái cớ mất nước hay sao ?

Ông lão tóc bạc như sương, ngồi cùng bàn góp ý :

- Đúng đó. Cái hùng tâm vạn trượng đánh đuổi Đồ Thư (5), diệt họ Hồng Bàng, lập nên nghiệp lớn đã tiêu ma rồi. Giờ thì quốc quân xa xỉ, khinh xuất, tướng kiêu, quân lười. 72 ngọn Hỏa hồi (6) chưa leo đã thấy run chân, còn nói chi việc trực diện nghinh địch.

Có tiếng cãi lại :

- Chẳng lẽ lão quên nỏ thần rồi sao ?

- Nỏ thần ư ? Đó là cách bắn tiếng lòe đời. Thần nỗ chẳng qua là một lợi khí cực kỳ tinh xảo, do tướng quân Cao Lỗ chế ra. Cánh nỏ cứng, phải người rất khỏe mới giương nổi. Tên làm bằng đồng tốt, mũi sắc nhọn, thân dài mà nhỏ, một lần bắn theo thế liên châu được ba mũi, mỗi mũi có thể xuyên suốt ba người. Quốc quân xưa là tay kiệt hiệt, thần lực kinh người, lại có tài cung nỏ. Địch tới cận thành một phát bắn ra, sát thương liền mấy tướng, địch hoảng loạn mà vỡ trận, rồi cứ thế một đồn trăm.

Quốc quân nay rượu thịt sa đà, thanh sắc tiêu ma chí lớn. Hơi sức đâu mà giương nổi cung cứng, tên dài. Hỡi ơi ! Thần nỗ khác gì đống sắt vụn.

Giọng khi trước cố cãi :

- Nỏ thần dù vô dụng, ta vẫn còn Thanh Giang sứ chống lưng.

Ông lão cười cay đắng :

- Cho dù thần Kim qui có thật chăng nữa, nhưng trời với thần chỉ giúp kẻ có lòng. Ngươi phải biết, nhờ ở sức mình mà lập nghiệp lớn, thì biết trân trọng, ra công cố giữ. Cậy ở sức thần mà được thiên hạ, thì sinh thói ỷ lại, kiêu căng. Bởi thế thần giúp cho vua nhất thời, lại chính là giáng họa cho dân muôn đời. Lẽ đó ngươi có biết không ?

Ông lão ngước mắt trông ra màn đêm. Đêm tối mung lung, gió Bắc lạnh lẽo:

- Quốc quân ơi ! Quốc quân! Đời có đạo Thánh nhân giúp cho thành. Đời vô đạo thánh nhân giữ lấy mình (Lão Tử - Đạo Đức kinh). Ta không phải là thánh nhân, song cũng đành đi thôi.

Nói đoạn, ông lão vén áo đứng dậy, lập cập từng bước bỏ đi.

Những lời bàn tán của đám kẻ chợ sắc như dao nhọn, xoáy vào tai chàng tuổi trẻ trong góc quán, chàng đang ngồi đối ẩm với một ông già dáng lão bộc. Ông già khẽ lay chàng tuổi trẻ.

- Đúng là lũ quá chén quàng xiên. Đã qua giờ Hợi, hay là chúng ta về.

Ra khỏi cửa quán, chàng trai hít một hơi thật sâu, giọng bồn chồn:

- Thúc thúc ! Ta luôn thấy lòng canh cánh không nguôi.

- Vì một người con gái ư ?

- Hừ, xá gì một người con gái.

- Thiếu chủ chẳng lẽ vẫn coi lão là người xa lạ?

- Đâu dám, lão với phụ thân ta tuy là nghĩa quân thần, nhưng tình như thủ túc. Lão với ta bề ngoài là chủ bộc, nhưng bên trong thật là thúc bá, điệt nhi.

- Đúng đó, bởi thế chủ nhân mới giao thiếu chủ cho lão trông coi từ bé.

Chàng tuổi trẻ cúi nhìn xuống đất, câu nói vọt ra như một lời thú tội :

- Dù sao vợ con cũng là máu thịt.

Giọng ông lão có vẻ chua chát :

- Nhưng vẫn phải nhớ : việc thiếu chủ đang làm vốn là nghĩa lớn.

Chàng tuổi trẻ khựng lại, nắm chặt hai tay ông già.

- Chao ơi ! Hai tiếng nghĩa lớn ràng buộc, làm lụy con người. Lâu nay tiểu điệt hằng suy nghĩ để tìm ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống : quyền lực ư ? Tài sản ư ? Hay là một chút hạnh phúc cỏn con, nhiều khi bị coi là vô nghĩa ?

Ông lão nhìn chàng trai bằng đôi mắt xót xa. Chàng trai gằm mặt đếm từng bước chân. Gần tới cầu đá dẫn vào nội cung, chàng bỗng giật mình vì một tiếng nói cất lên trên cầu :

- Phu quân đã về đó sao ?

Giọng nói nhỏ nhẹ, ngập ngừng :

- Quán xá là chốn xô bồ.

Chàng trai trẻ bất chợt gắt lên, như muốn trút cả nỗi bực dọc trong lòng :

- Ta đâu cần ai quản cố.

Chợt chàng dịu giọng :

- Nàng còn đợi ta ư ? Nơi này gió sương bất tiện.

- Trong nhà nóng bức, thiếp ra đây hóng mát, ngắm cội mai già. Chàng thấy không, trời chớm vào hạ, mà gốc lão mai bảy cánh vẫn còn sót lại mấy bông cuối mùa.

Người thiếu phụ cúi đầu thật sâu, ánh mắt dịu dàng, tiếng nói nhẹ như gió thoảng :

- Mất mẹ từ rất sớm, cảm giác ngày ấy ăn sâu vào lòng, nên thiếp luôn luôn muốn níu chặt lấy những gì sắp mất. Thiếp thích cảnh chiều tà, trăng lặn, cùng những bông hoa cuối mùa, chẳng mấy chốc những bông hoa sót lại sẽ héo úa dưới cơn nắng hạ. Trọng Thủy ơi ! Cuộc đời có giống thế không ?

Trọng Thủy thoáng rùng mình, vội choàng tay qua lưng vợ dìu đi. Người thiếu phụ run giọng tiếp :

- Đôi lúc thiếp linh cảm sắp mất một cái gì rất lớn, rất lớn. Hạnh phúc ư ? Lẽ sống ư ? Niềm tin ư ?

Khi ngừng nói, nàng thoáng nghe một lời tâm sự, tiếng mất tiếng còn :

- Mỵ Châu ! Nếu ta có làm gì để lụy đến nàng, xin nguyện lấy cái chết tạ tội.

o0o

Tiết đông chí

- Thúc thúc tìm ta ?

- Cả tháng bặt tin, thiếu chủ! Chẳng hay công việc tiến hành được đến đâu rồi ?

- Nỏ thần cất trong ngự phòng, mà quốc quân ngày đêm quấn quýt với bọn gái đẹp. Mọi việc trong triều, quan nội chính chỉ còn cách tâu bên mâm rượu.

- Thiếu chủ ! Tin nhà thúc dục, thiếu chủ chớ nên cố tình lần lữa.

Giọng điệu nghiêm khắc hình như làm Trọng Thủy bực mình.

- Ta biết, nhưng có lẽ phải chờ đến tiết xuân quốc quân làm lễ tế cáo trời đất, ta mới có cơ may đột nhập.

Trọng Thủy quay đầu ngựa, nói gấp :

- Huống chi... nội tử sắp đến kỳ khai hoa.

Câu nói chưa dứt, ngọn roi đã quất mạnh vào lưng ngựa, thớt ngựa vọt ra ngoài thành Nam, cất vó như cuồng, chàng trai tiếp tục ra roi, người với ngựa biến mất trong lớp bụi mù.

Ông già nhìn theo thở dài :
- Là duyên ? Là nợ ? Có lẽ chỉ biết hỏi trời.


o0o

Tiết lập xuân.

- Thiếu chủ hình như cố ý lánh mặt lão.

- Ta việc gì phải tránh, chỉ vì nội tử mới sinh, ta phải kề cận săn sóc cho mẹ con cứng cáp.

- Phụ tử nằm trong thiên luân, dù sao đó cũng là huyết nhục Triệu gia. Nhưng hiếu, trung vốn là đạo lớn. Chẳng hay thiếu chủ còn nhớ lời chủ nhân dặn dò trong dịch xá lúc lên đường ?

Trọng Thủy gắt lên :

- Ta không cần lão giáo huấn.

Nói rồi lại quất ngựa phóng đi. Ngựa phi không biết mấy dặm dài, đến khi quay lại, trời bắt đầu chạng vạng. Vào đến thành nội, phố xá đã lên đèn. Trước cửa cung, một thiếu phụ đứng chờ, nàng âu yếm lau từng giọt mồ hôi dính đầy bụi cát.

- Mỗi giọt mồ hôi là một điều phiền muộn tiết ra.

Trọng Thủy cố tránh ánh mắt vợ:

- Nàng còn chờ ta sao ?

- Cơm canh còn nóng, ta vào thôi.

Ngồi vào bàn, Trọng Thủy ngập ngừng :

- Hỡi ơi, phụ vương lâm bệnh, có ý gọi ta về, mà ta thì không nỡ bỏ đi khi hài nhi chưa cứng cáp.

Mỵ Châu ánh mắt mung lung.

- Thiếp biết tình chàng sâu nặng, nhưng phụ thân tuổi già như đèn trước gió, mà hài nhi khôn lớn ngày tháng còn dài, chàng cũng nên cân nhắc nặng nhẹ.

- Đa tạ nàng đã thể tất cho ta.

Mỵ Châu gục đầu vào vai chồng:

- Thiếp nguyện làm người đàn bà quê mùa, ngày ngày bồng con, tựa cửa ngóng trông.

Không gian vắng lặng, nghe rõ từng hơi thở. Trọng Thủy nhỏ nhẹ :

- Vạn nhất can qua dấy lên ta biết tìm nàng ở đâu ?

- Thiếp có chiếc áo lông ngỗng (7), sẽ lấy lông làm dấu chỉ đường.

Chợt nàng cười hồn nhiên :

- Mà lo gì, phụ hoàng còn có nỏ thần.

- Nỏ thần ư ?

Trọng Thủy chợt im bặt

o0o

Tiết hạ chí.

Tháng ngày lần lữa, xuân qua rồi hạ đến. Cuộc hành trình đã hoãn lại nhiều phen.

Nửa đêm trời lặng gió, Trọng Thủy từng bước nhẹ, bồn chồn, hết ra lại vào. Chàng dừng lại, hé màn lụa mỏng. Trong đó một thiếu phụ nằm bên đứa hài nhi. Đứa bé bụ bẫm, hồng hào. Nét mặt thiếu phụ ánh lên niềm hạnh phúc, tin tưởng. Trọng Thủy run tay khép cánh màn, lẩm bẩm :

- Ta không muốn bịn rịn lúc chia tay, xin nàng muôn vàn trân trọng.

Trọng Thủy nhìn khắp gian phòng. Gian phòng quen thuộc, ấm cúng như có hồn người lẩn quất. Mỗi vật là một kỷ niệm, là dấu tích một cuộc tình, một cuộc đời phù du. Trọng Thủy đóng nhẹ cửa phòng, khép lại sau lưng một thế giới. Ngoài kia là bóng đêm, gió hiu hiu mà vẫn lạnh run người. Trọng Thủy lầm lũi dắt ngựa qua cầu đá, lặng lẽ, đơn độc, tiếng vó ngựa lộp cộp trong đêm, vọng lên khô khốc như tiếng vồ đập trên săng. Ánh trăng mơ hồ, lãng đãng, đom đóm lập lòe. Trọng Thủy dừng chân, ngó sững, mường tượng thấy hai bóng dáng bé nhỏ, mong manh từ hai đầu cầu chạy vội lại với nhau chập làm một, rồi tan loãng trong màn đêm. Đêm sâu thẳm, gió trở chiều. Trọng Thủy đột ngột với tay sau lưng, ánh kiếm lóe lên, bóng kiếm như cơn lốc, hoảng loạn chém nát cội mai già, mấy bông hoa bảy cánh cuối mùa tơi tả, theo gió bay đi. Trời chợt đổ mưa, con đường trước mặt khó đi vô cùng.

o0o

Tiết trọng thu.

Kinh thành có biến. Nam Việt Vũ Vương Triệu Đà xuất quân ba quận tiến đánh Cổ Loa (8). Địch chuẩn bị vượt hào, An Dương Vương ung dung ngồi trên lầu cao, cùng mỹ nữ uống rượu nghe đàn.

Địch qua sông, quốc quân nhìn xuống quát :

- Tên bại tướng phản phúc còn dám vác mặt tới sao ? Hay là chê nỏ của ta không đủ cứng.

Đám quân sĩ lố nhố trên mặt thành chỉ trỏ, vỗ tay reo cười.

Địch tới chân thành, quốc quân chậm rãi mở bao gấm lấy nỏ thần. Nỏ hôm nay dường như quá nặng, mà sao lẫy nỏ chưa bấm đã gẫy làm đôi.

Quốc quân xuất hạn cùng mình, vội quát :

- Cao Lỗ đâu rồi ?

Viên quan già đứng hầu run rẩy :

- Cao Lỗ đã bị bệ hạ đuổi từ năm ngoái, còn Đình Toán tháng trước cũng đã bỏ đi.

Địch vào thành. Từ đám hậu quân một kỵ sĩ vọt ngựa xông lên. Kinh khuyết tan hoang, nội cung vắng ngắt. Kỵ sĩ hốt hoảng bay ngựa ra ngoài thành Nam. Giữa lối mòn, những chiếc lông ngỗng rải rác phơi mình trên cỏ. Ngựa phi nước đại, kỵ sĩ cả ngày không kịp ăn, chỉ đổi ngựa ba lần. Mặt trời sắp lặn, dấu lông ngỗng dẫn tới một bãi biển hoang (9). Kỵ sĩ nhảy xuống đất, trước mắt là một thân hình thiếu phụ, chiếc áo trụi lông, đầu lìa khỏi cổ, dòng máu loang sẫm một vùng biển Đông. Kỵ sĩ là một chàng trai, chàng trai đổ xuống, khuôn mặt thấm đẫm mồ hôi lẫn bụi cát, những giọt mồ hôi lấm tấm bằng hạt đậu, không phải nước mắt, kỵ sĩ không khóc, chỉ thảng thốt kêu lên :

- Mỵ Châu ! Ta đã để lụy đến nàng ! Con chúng ta đâu ?

Đó là câu nói cuối cùng. Kể từ giờ phút đó bọn tả hữu chỉ còn bắt gặp kẻ mộng du lầm lì, hai tay ôm một bọc lớn, đi giữa phố phường mà như chẳng thấy ai.

o0o

Mấy chục năm sau đó có lão thuật sĩ phương Bắc đến kẻ chợ, lão lang thang khắp chốn, kiếm ăn bằng nghề tướng số. Những lúc vắng khách, lão thường ngồi bệt xuống đất gõ bồn, vừa ca, vừa kể chuyện.

Lão kể câu truyện tình ngắn ngủi của đôi trai gái giữa bối cảnh một cuộc tranh bá đồ vương. Truyện kết thúc bằng việc: khách thương có kẻ lấy ngọc trai biển Đông rửa trong giếng Trọng Thủy, sắc ngọc liền sáng ra.

Dân kẻ chợ xúm xít ba vòng nghe kể, có gã nghiến răng mắng Trọng Thủy là tên gián điệp bạc tình, có gã lấy lại việc tự sát tạ tội để biện bạch cho con người bất hạnh. Bọn kẻ chợ lớn tiếng tranh cãi không thôi, đôi lần đã nhờ lão thuật sĩ phân giải, lão không trả lời, chỉ cười trừ.

Một hôm Triệu Văn Vương, húy là Hồ (10), xuất cung, thấy lão đang ca, liền dừng bước lắng nghe. Nghe một lúc, Văn Vương chau mặt rồi thở dài bỏ đi. Từ đó dân kẻ chợ cũng không thấy lão thuật sĩ xuất hiện.

Chú thích

1. Cao hậu: vợ Hán Cao Tổ. Cao hậu lấn quyền Hiếu Huệ hoàng đế, giải quyết mọi việc chính sự (từ 187-180 TTL).

2. Lục Giả: Sứ thần nhà Hán. Năm 196 TTL, Lục Giả sang phong cho Triệu Đà làm Nam Việt Vũ Vương. Năm 178 lại sang trách việc Triệu Đà tiếm xưng đế hiệu.

3. Chạ Chủ:

a. Tên thành:

-An Nam chí lược (ANCL) của Lê Tắc, quyển đệ nhất, mục cổ tích, viết về việc xây Loa Thành có ghi: “Việt Vương thành tục gọi là Khả Lũ.”
-Việt sử tiểu án (VSTÁ) của Ngô Thời Sĩ viết: “Loa Thành còn có tên là Trung Quy Thành, người nhà Đường gọi là Côn Lôn Thành”.
-Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) của Ngô Sĩ Liên và Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (KDVSTGCM) của sử thần triều Nguyễn đếu nói Cổ Loa còn gọi là thành Tư Long.
-Lịch sử Việt Nam (LSVN, 1983) của nhóm Phan Huy Lê viết “Khả Lũ đọc nôm là Chạ Chủ” (số liệu 32 ngàn hộ dân lấy ở cuốn trên). Chúng tôi mượn danh xưng này.

b. Năm xây - Hình dáng:

KĐVSTGCM (bản dịch của Viện Sử học): “Năm Bính Ngọ (255 tr.c.ng) Vua Thục đắp thành ở Phong Khê, rộng đến nghìn trượng, xoáy tròn như hình trôn ốc, nên gọi là Loa thành.”. Trong phần dẫn sách ghi thêm: “Xoáy tròn chín vòng như hình trôn ốc
Hiện nay chỉ còn di tích ba vòng khép kín, không cân đối, vì uấn theo dòng chảy của sông rạch, đó là thành Nội, Trung và Ngoại.

4. Cao Lỗ: tướng của An Dương Vương, có tài kiến trúc và chế nỏ. ANCL gọi là Cao Thông.

5. Đồ Thư: tướng nhà Tần, tử trận khi đem quân sang đánh Âu Lạc.

6. Hỏa Hồi: theo nhóm sử gia Phan Huy Lê, Hỏa Hồi là nhũng ụ đất cao để mai phục bắn nỏ, phóng lao.

7. Áo lông ngỗng (Nga mao). ĐVSKTTVSTÁ ghi: “chăn (hoặc đệm) gấm (nhồi) lông ngỗng thường dùng để đắp”.

8. Đánh Cổ Loa:

-Các bộ sử lịch triều như ĐVSKTTKĐVSTGCM đều thống nhất: Năm Qúy Tỵ, năm thứ 50 đời Thục An Dương Vương, tức năm thứ 2 đời Tần Nhị Thế Hồ Hợi (208 TTL)
-Việt sử yếu của Hoàng Cao Khải và Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim cùng ghi năm 207 TTL
Như vậy theo 4 bộ sử trên, Triệu Đà chiếm Loa Thành trước khi Hán Lưu Bang diệt Tần.
Theo Sử ký Tư Mã Thiên, phần Liệt truyện, thiên 113, Nam Việt úy Đà: “Triệu Đà chiếm Âu Lạc sau khi Cao hậu chết 1 năm” (Cao hậu chết năm 180 TTL).
Các nhóm sử gia sau này thường căn cứ vào niên đại trên:
-Nhóm Phan Huy Lê: 179 tr.c.n.
-Phạm Văn Sơn (Việt sử toàn thư): 180 TTL. Ở đây chúng tôi dựa theo tài liệu của Tư Mã Thiên.

9. ĐVSKTT: “An Dương vương chạy đến núi Mộ Dạ, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An

10. Triệu Văn vương (137-125 TTL):
Theo một số bộ sử cũ thì Triệu Hồ là cháu nội Triệu Đà, hoặc rõ hơn: cháu Triệu Đà, con Trọng Thủy.
Riêng Việt sử toàn thư của Phạm Văn Sơn xác định: “Văn vương húy là Hồ, cháu đích tôn Triệu Đà, con trai Trọng Thủy, Mỵ Châu” Không rõ dữ liệu trên tác giả lấy ở đâu. Viết truyện này, chúng tôi tạm mượn chi tiết do PVS dẫn, cho phù hợp với nhân vật.

Wednesday, November 14, 2007

NGHÌN THU NHỚ NGƯỜI


Vũ Lưu Xuân


Còn đâu nữa là loạt truyện ngắn liên hoàn, hiện về như chuỗi hồi ức của một người đầu bạc. Truyện xoay quanh năm nhân vật trẻ tuổi, lấy Sài Gòn thập niên 60, TK. XX làm bối cảnh …- Truyện 1

Hai hàng cây dầu cao vút, cắt bầu trời xám xịt thành những mảnh vụn. Con đường Pasteur đêm chưa xuống đã ít người qua lại, có lẽ vì cơn mưa trái mùa. Đi gần tới ngã ba cuối phố, tôi ghé vào một quán cà phê nhỏ. Quán vắng ngắt. Cô chủ ngồi ở cuối phòng, vẫn cái dáng lơ mơ quen thuộc, nhìn mà chẳng thấy, nghe mà chẳng hiểu. Tôi rũ áo mưa bước vào, cô quán giật mình, đưa vội ngón tay lên miệng, khẽ suỵt. Theo hướng mắt của cô, tôi thấy một gã đang lặng lẽ hí hoáy viết ở góc quán, gần bên cửa sổ. Tôi nói khẽ:

-Cái thằng mặt dày sao còn vác xác về đây?

-Lạ lắm! Hơn ba năm gặp lại, anh ấy chỉ ấm ớ mấy câu, rồi ngồi trơ như phỗng.

-Chắc cu cậu đang bận mần thơ, không viết nhanh chữ nghĩa bay mẹ nó hết.

-Nhưng trông có vẻ rất đau.

-Thì cô lại an ủi nó đi.

Nhìn dáng tiều tụy của gã, tôi chợt nhớ lại quang cảnh ba năm trước, cũng trong quán này, cả bọn năm đứa quay quần vào một chiều cuối năm, không khí có vẻ nặng nề.

Gã họ Nguyễn thở dài:

-Đám thần tượng đất sét của bọn mình, lúc này gặp mưa, nhão nhoét thành bùn…

Tôi hình dung ra ba khuôn mặt: một ông linh mục, một ông giảng sư, một ông học giả. Buổi học đầu tiên sau ngày đảo chánh, ông linh mục lắp bắp thanh minh về mối quan hệ của mình với nhà họ Ngô. Ông giảng sư bên ngoài xấp tài liệu cắp nách, bao giờ cũng có tờ báo Đuốc Tuệ to tướng, làm như thiên hạ chỉ có ông là Phật tử thuần thành. Còn ông học giả không ngớt bi bô: Nếu bà Nhu được gặp tôi sớm hơn, thì đâu có đến nỗi này.

Giọng gã họ Nguyễn rất khinh bỉ:

-Tao chẳng còn gì để học ở các ông ấy. Ngày mai tao đi.

Họ Hoàng cự lại:

-Mày chỉ được cái trò vơ đũa cả nắm. Nhà Nho còn có cụ Quỳnh, cụ Giác. Linh mục còn có cha Nghiêm, cha Định. Học giả còn có thầy Cầm, thầy Chi. Các nhà mô phạm chân chính như thầy Toản, thầy Bào. Lại còn thêm thầy Trụ cười lên đi cho răng vàng sáng chói. Một đời âm thầm, tận tụy nghiên cứu, nhiều ông tuy học vị không cao, nhưng há chẳng đáng cho mày học hỏi sao?

Gã họ Nguyễn vẫn cố chấp:

-Bầu không khí nhiễm độc rồi. Mùi chuột chết bốc lên từ chính giữa đám sinh viên. Tao tởm.

Rồi gã bỏ đi một mạch ba năm.

Hết nhìn gã gục đầu bên cửa sổ, tôi lại nhìn sang Thủy. Cô quán vẫn là cô quán xưa, nhưng ánh mắt tinh quái thời nào đã thêm phần diệu vợi. Thủy trách nhẹ:

-Anh cũng tệ, cả tháng mới ghé một lần.

Tôi nói nhỏ vào tai cô:

-Chỉ sợ ghé hoài quen nết, sẽ lạc mất lối về. Thế nào, khá không?

Thủy đưa mắt nhìn khắp gian phòng nhỏ chừng chục mét vuông:

-Anh xem đó.

Tôi cũng biết, cô chủ mở quán, có lẽ chỉ để vui với đời, chứ bán chác gì. Khách khứa được vài ông đứng tuổi, với dăm bảy gã sinh viên kiết xác, lâu lâu lại đòi lấy sổ à la ghi.

Gạch gạch, xóa xóa chừng năm mười phút, gã quăng bút thở dài, tay mân mê tờ giấy. Tôi chỉ:

-Đẻ xong rồi, không khéo lại đẻ ra quái thai thì vất vả to.

Tôi tiến về phía gã, túm chăt lấy vai:

-Thằng khốn.

Gã giật mình như tỉnh cơn mộng du. Nhận ra tôi, gã toét miệng cười, nhưng ánh mắt phía sau cặp kính vẫn đờ đẫn, vô hồn. Gã hỏi bâng quơ:

-Thế nào? Tốt chứ?

-Đồ vô duyên.

-Ý tao hỏi tình hình thế nào?

-Vẫn cảnh bát nháo kinh niên. Phật giáo, Công giáo vẫn lên đường, xuống đường. Các đấng lãnh tụ vẫn nhi nhô. Có đấng để râu, cắt râu đến dăm lượt, rồi nhảy phốc lên mui xe đấm ngực, tự đả đảo chính mình. Thứ trò hề muôn thuở, nói ra bẩn miệng.

Gã nhìn khắp phòng, hất hàm:

-Thằng Uông, thằng Hoàng đâu?

-Bộ chúng ông ngày nào cũng phải túc trực ở đây để đợi mày chắc. Nói vậy chứ tháng trước tao gặp thằng Hoàng ở Gò Dầu Hạ, nó phất phơ ngoạn cảnh chợ trời biên giới. Thằng Uông đi Thủ Đức, nghe đâu bây giờ đóng ở Khe Sanh. Bọn mình năm đứa, may mà còn ba.

Gã nhìn tôi có vẻ diễu cợt:

-Còn mày, liệu nên cơm cháo gì không?

-Vẫn giương mắt ếch lên mà nhìn đời. Việc chính của tao bây giờ là đến đây trồng cây si. Tiếc rằng đất cứng quá, rễ không bén được.

Thủy đấm nhẹ vào vai tôi, nguýt dài:

-Đốt ông đi.

Tôi làm bộ mắng:

Liệu hồn cô, giọng con gái sao mà chua thế?

Rồi quay sang gã:

-Bây giờ tới phiên tao lục vấn mày. Ba năm trôi sông, lạc chợ, mày sống ở đâu?

-Tao đi tứ xứ. Ngủ đò ở sông Hương một tuần. Tới chợ Hàn mua đồ hộp phế thải của lính Mỹ. Về Bến Đá ngửi mùi nước mắm. Ghé lầu Ông Hoàng đọc hết sạch mấy bài thơ dấm dớ đề kín mặt tường. Đi tác ráng xuôi ngược song nước miền Tây. Ăn bò nướng ngói ở Sa Đéc, ăn mắm bồ hóc ở Cao Lãnh, rồi say chết ở bến Ninh Kiều.

Đột nhiên gã dừng hẳn lại, thẫn thờ. Tôi tiếp:

-Cuối cùng vác cái xác sống dở, chết dở về Sài Gòn, sau khi đã để lại nửa hồn ở… ở đâu? Khai ra, đồ chết tiệt.

Giọng gã rất nhẹ:

-Ở Đà Lạt.

Gã đưa tôi bài thơ mới làm. Tôi đọc nhanh rồi trao cho Thủy:

-Thủy này, cô ngâm nhá.

Thủy cười:

-Trong mấy năm các anh tứ tán, cũng có mấy ông thi sĩ ẩm ương tới đây bắt em ngâm thơ con cóc, thét rồi lòng hóa đá và tiếng bị rè, chả biết còn ngâm nổi nữa không?

Ngày trước, tôi thích nhất những đêm cuối thu, ngoài trời mưa rơi rả rích, gió se se lạnh. Trong quán đèn tắt hết, dưới ánh nến lung linh, bốn đứa quay quần nghe Thủy ngâm thơ, cùng với tiếng tiêu của tôi phụ họa. Giọng ngâm lãng đãng, không trong vắt mà trầm đục nỗi buồn. KhiThủy ngâm bài Màu Thời gian của Đoàn Phú Tứ, tôi bắt gặp trong ánh mắt cô một chút gì luyến tiếc, một chút gì cay đắng, bẽ bàng, một chút gì vời vợi nhớ nhung Hương thời gian thanh thanh, có lẽ không bao giờ trở lại. Ngâm hết câu cuối, đôi mắt chìm ngập bóng tối từ từ nắm lại, khép kín một khung trời. Tôi nhớ vô cùng đôi mắt trong đêm hôm ấy.

Thủy đọc bài thơ hai ba lượt, như muốn nuốt kỹ từng lời, rồi bắt đầu cất giọng:

Bút khai xuân nét chữ gầy,
Mong manh tình ý, thoảng đầy hồn ta.
Nắng lên thơm bước lụa là,
Gió lên phơi phới hài hoa đầu thềm.
Phấn nào hồng rực má em?
Son nào tô thắm môi mềm chiêm bao?
Mắt trong như ý ngọt ngào,
Ngập ngừng em đến, lời trao môi cười.
Gió bay tóc xõa tơ trời,
Xuôi bờ vai nhỏ chơi vơi nắng hồng.
Cuối đường, áo trắng mênh mông.
Hồn ta phút cũng bềnh bồng cuốn trôi.
Giấc La Phù mộng giữa đời
Mà ta lãng tử lạc loài lối tiên.
Trong ta, tình đã ngủ yên,
Phút như gió thoảng, triền miên chợt đầy.
Rượu nồng hay mắt em say?
Giây tương tư buộc gót giày lãng du.
Hồn ta lạc bến sông mù,
Vọng về lối cũ, nghìn thu nhớ người!
Bút khai xuân nét hao gầy,
Mà buồn theo bút tháng ngày thoảng qua.

Vẫn dáng mộng du, gã đăm đăm nhìn ly cà phê nhỏ từng giọt một. Cái thằng vốn coi trời bằng vung, bây giờ ngồi đó, dáng mệt mỏi, răng cắn chặt cán tẩu, miệng cười như mếu. Tôi vỗ vai đánh thức gã:

-Tao hiểu rồi, cóc chết ba năm quay đầu về núi, tưởng nên vương tướng gì, ai ngờ vất va, vất vưởng, ngồi gặm từng chút cô đơn giữa biển người điên loạn, để vọng về lối cũ nghìn thu nhớ người. Này thằng khốn, lòng bạc như vôi, xưa kia mày mà biết nhớ ai, bây giờ đúng là quả báo. Đời tịch rồi em ạ!

Gã vẫn lầm lầm như tượng gỗ. Tôi xuống nước:

-Bọn mình bốn đứa, với Thủy là năm, ngày xưa còn bé, có gì cũng tâm sự với nhau. Bây giờ bộ tưởng mày lớn lắm rồi sao?

Thủy cũng giục:

-Phải đấy, nói hết ra đi cho vơi cái bầu tâm sự.

Gã quay sang Thủy.

-Cô còn nhớ anh Hiền không? Chết rồi.

***

Buổi chiều Sài Gòn còn nồng hơi nắng. Xa cái giá buốt trùng trùng của miền cao nguyên đất đỏ, thể xác tôi trở lại bình thường, nhưng hồn lại như đóng kín một lớp băng. Tôi còn nhớ ba năm trước, trong cơn bốc đồng, từ giã bạn bè nối khố, tôi đã sống trôi nổi, lang bạt khắp nơi, từ giải đất miền Trung còm cõi, tới đồng bằng mầu mỡ miền Nam, nhưng tất cả đều không thể níu chân tôi lại. Cùng với tháng ngày trôi nổi, tôi đã để lại sau lưng những cuộc tình dối gạt, có lẽ cả những cặp mắt tuyệt vọng, đợi chờ hay uất hận. Ba năm ấy, tôi được mất những gì? Được những cảm giác nặng nề xác thịt, nhưng mất trắng sự thanh thản tâm hồn. Nỗi nhọc nhằn đè nặng lên đôi chân đã bắt đầu thấm mỏi. Vừa lúc ấy, một bậc đàn anh làm hiệu trưởng trường tư ở Đà Lạt kéo tôi về.
Buổi học đầu tiên bước vào một lớp nữ sinh, tôi bắt gặp một ánh mắt mở to, bang hoàng mừng rỡ. Tôi vội bước xuống:

-Xuân phải không?

Cô bé lí nhí:

-Chú Nguyễn.

Niềm vui bất ngờ làm tôi mất tập trung. Đi cùng trời cuối đất, lúc dừng chân lại gặp được đứa cháu năm xưa. Buổi học tan, Xuân đón tôi ở cổng trường, dắt tôi về nhà bằng bước chân chim sẻ tíu tít. Sự mừng rỡ bồng bột hiện rõ trong từng câu nói huyên thuyên, nhiều lúc không đầu, không đuôi. Con bé vẫn như ngày nào, cho dù tuổi mười bảy không còn là tuổi mười hai. Điều ấy làm tôi thầm vui, vì thấy cháu mình chưa vội đánh mất tuổi hồn nhiên, Vừa tới cổng, chị Hiền đã nhận ra tôi, chị reo lên:

-Chú Nguyễn hả? Trời ơi! Đi đâu mà biệt tăm biệt tích, chú tệ thật.

-Thì bây giờ em đã dẫn xác tới tạ tội rồi mà.

Bước qua cửa, tôi chợt khựng lại, kinh ngạc đến sững người:

-Anh mất rồi sao?

Khung hình trắng đen của anh đặt trên bàn thờ, phía trước có một bát nhang.

-Phải vậy không?

Nét mặt chị chùng xuống:

-Anh mất hơn hai năm rồi. Trước khi mất, anh vẫn thường nhắc đến chú, tiếc rằng không được gặp. Chị có viết mấy lá thư báo tin, họ đều trả lại.

-Xin lỗi chị, thời gian qua em đi tứ xứ, không nhận được là phải.

-Mà chú cũng tệ thật, biền biệt mấy năm, không có lấy một chữ.

-Dạ anh cũng rõ thói xấu của em, ngày xưa viết thư về nhà chỉ vỏn vẹn: còn sống, cần tiền.

-Gớm, dẹp chú đi, giá viết thư cho gái thì khỏi phải dục

Tôi nó đùa:

-Ai bảo chị vậy, viết thư cho gái chỉ cần hai chữ: còn yêu.

Rồi cười xòa, lảng sang chuyện khác:

- Vì sao anh mất hở chị?

-Mấy năm sau này anh yếu lắm, anh mất vì bệnh lao.

Tôi ngạc nhiên:

-Ngày nay lao đâu có phải là chứng nan y.

Giọng chi đượm vẻ ngao ngán, mệt mỏi:

-Chị biết thế mà đành bất lực. Sau này chi mới rõ, bệnh lao không làm anh chết, nhưng chứng trầm uất có thể tiếp sức cho bất cứ bệnh gì vật ngã một người đàn ông. Chú hiểu rõ anh mà. Bây giờ chị rất sợ, sợ chứng trầm uất và sợ nhất là bệnh phổi.

Tôi bước đến bàn thờ anh, thắp ba cây nhang, đầu óc miên man suy nghĩ.

Cả bốn chúng tôi cùng gặp anh ở quán cô Thủy sáu bảy năm về trước. Buổi tối hôm ấy, Thủy ngâm một bài thơ anh làm. Bài thơ phác lại cuộc hành trình của một tay lãng từ, tuổi bốn mươi, tuy rất tài hoa mà chung thân thất bại. Có bốn câu làm tôi xúc động:

Ta thèm say cho đất trời đổ sụp,
Chén đắng không làm vị đời ngọt them!
Ta muốn quên trong trận cười nghiêng ngửa,
Hồng phấn, yên chi, lòng lạnh như tiền.

Tôi mơ hồ cảm thấy giữa đời phù du, không còn nơi nào để anh có thể tìm được niềm vui.

Anh kết bằng hai câu:

Gió loạn trời Nam, mắt người vẩn bụi,
Xin nhận tiếng cười chàng Tiếp Dư điên.

Câu thơ xác định vị thế của con người lạc lõng giữa cảnh nhiễu nhương. Tự nhiên tôi thấy thông cảm và gần gũi anh. Không hiểu sao trong bốn đứa, tôi có vẻ hợp với anh hơn cả. Từ đó chiều thứ bảy, chúng tôi rong chơi phố phường, rồi ghé về nhà anh ăn tối. Tôi vốn là đứa bé mồ côi từ nhỏ, nên đã lấy gia đình anh chị làm những người thân, và anh chị cũng coi tôi như đứa em ruột thịt của mình. Năm ấy Xuân mới lên tám. Buổi tối, tôi thay anh dạy cháu học bài, cho tới năm nó được mười hai. Tôi đã chứng kiến con bé từ lúc lên tám vòi vĩnh chú từng gói kẹo, cho tới tuổi mười hai, sớm biết giúp mẹ vun vén việc nhà. Cháu của chú bây giờ đã lớn, nhưng tôi ao ước nó vẫn cứ bé bỏng như xưa, để có thể ôm chặt vào lòng. Ngày tháng ấy chan hòa vẻ đẹp thanh bình rất hiếm.

Tuổi trẻ anh khá sôi động. Bị cuốn hút vào vòng xoáy thời cuộc, đã có lúc anh tham gia đảng phái. Cuối cùng chợt nhận ra: anh chỉ là kẻ ngây thơ giữa sinh hoạt chính trị phản trắc, đầy mưu ma, chước qủy. Mọi diễn biến chung quanh, hầu như đều trái ngược với lý tưởng, lại thêm thất bại kéo theo thất bại, từ đó, anh rơi vào trạng thái trầm uất, suốt ngày lầm lì đọc và viết, nhưng viết chỉ để mà nhìn, kể cả thị trường chữ nghĩa cũng không dành chỗ đứng cho kẻ thẳng lưng. Hai năm sau chị đưa anh lên Đà Lạt trồng hoa, ngắm cảnh. Người đàn bà đó âm thầm theo dõi từng bước chân chồng, bước chân lún dần trong bãi cát đời vô định, chị xót xa mà không hề thốt một lời than.

Bình thường trong lúc oằn vai gánh vác nỗi nhọc nhằn của cuộc sống, con người thường có thói quen đến với Tôn giáo, để tìm nguồn an ủi cuối cùng, nhưng tôi còn nhớ có lần anh đã bảo:

-Từ khi trưởng thành anh không bao giờ cầu nguyện, vì Chúa và Phật chẳng thể ban phát những điều mình không đáng hưởng. Còn nếu cầu nguyện là một hình thức tỏ bày tình cảm của mình với đấng Thiêng liêng, thì thú thật, thứ tình cảm ấy anh không hề có.

Như vậy còn lại những gì cho anh, con người chơ vơ giữa vòng trời đất?

Quay lại với gia đình, anh mang thêm mặc cảm bất lực, vì không thể chia sẻ gánh nặng áo cơm. Lòng yêu vợ, thương con, phút chốc biến thành nỗi ám ảnh dày vò. Thế đó, hình như chỉ còn một con đường dành cho anh đi: con đường về với cái chết. Bản chất con người khác nhau, nên chẳng thể trách anh sao không thử đứng lên làm lại từ đầu. Nhưng tôi vẫn trách anh một điều: một gia đình như thế chưa đủ với anh sao? Anh có người vợ suốt đời thương yêu và đủ tinh tế để thưởng thức tài hoa của chồng. Anh có đứa con gái dịu dàng, luôn nhìn cha bằng đôi mắt kính phục xen lẫn thương yêu. Như vậy chưa đủ với anh sao? Cái chết chấm dứt bốn mươi năm tuổi đời phiền muộn, nhưng lại khởi đầu chuỗi ngày dài đau đớn, xót xa cho người còn sống. Nhìn lên bàn thờ, tôi thấy anh cũng đang nhìn tôi, mắt buồn rười rượi như muốn bảo:

-Cả chú cũng trách anh sao?

Cái khắc nghiệt trong thân phận làm người là chúng ta thường xuyên bị đặt trước những cảnh ngộ không phải lúc nào cũng rạch ròi trắng, đen.

Không biết tôi đứng lặng trước bàn thờ anh bao lâu, tiếng nói của Xuân làm tôi giật mình.

-Mẹ ơi! Con dọn cơm nhá.

Xuân quay sang tôi:

-Chú tâm sự gì với bố cháu mà lâu dữ vậy?

-Chú chả nói gì cả. Giữa bố cháu và chú không cần phải nói vẫn hiểu rõ nhau.

Chị Hiền nói như ra lệnh:

-Hôm nay chú phải ở lại ăn cơm với chị, rau dưa thôi.

Trong bữa cơm, câu chuyện tuy cởi mở nhưng vẫn có vẻ nặng nề. Chỉ có Xuân còn vui vẻ, nhưng câu nói hồn nhiên đôi lúc làm chúng tôi nguôi ngoai. Xuân hỏi tôi:

-Chắc chú có đôi rồi phải không?

-Có rồi, chú có đôi đũa cháu vừa mới đưa.

Chị cười hiền hòa:

-Chị hỏi thật, nếu chưa có chỗ nào để chị chỉ cho một đám.

-Dạ em vẫn chiếc bóng phòng không.

-Rõ khéo, lớn tướng rồi còn gì.

-Không phải đâu, già rồi mới đúng.

Xuân chen vào:

-Cô Nhung phải không mẹ? Cháu dám cá cô ấy gặp chú là mê tít thò lò.

Tôi bật cười:

-Con bé này, cứ tưởng chú của mình ghê gớm lắm, chẳng sợ người ta cười vào mặt cả lũ. Nói vậy chứ xin chị, em khấn đồng trinh.

-Có mà đồng xu, chị đi guốc trong bụng anh em nhà chú.

Tuy vẫn cười cười nói nói, nhưng khuôn mặt xanh xao của chị vắng hẳn nét mãn nguyện ngày nào. Điều ấy làm tôi cảm thấy xót xa.

Cơm nước xong, Xuân liếc mẹ, cười cầu tài:

-Mẹ ơi! Để chiều về con rửa chén bát, bây giờ con phải đi theo chú cho biết nhà.

Chị mắng yêu:

-Con bé này, lúc nào cũng nóng nóng, sốt sốt, để chú nghỉ ngơi chốc đã.

Căn nhà tôi thuê bề ngoài trông cũng tươm tất, nhưng vừa bước vào, Xuân đã chun mũi:

-Eo ơi! Chú bê bối kinh khủng, thế này mà chịu được à? Thôi để mai cháu bảo cô Nhung sang dọn dẹp hộ.

-Chả dám đâu.

Nói vậy chứ Xuân bắt đầu ra tay. Trước hết gom mớ quần áo bẩn vứt lung tung, dồn vào trong thau, quét sạch trong nhà, dưới bếp, sắp gọn lại chồng sách vở, rồi lau tủ, bàn. Chẳng mấy chốc căn phòng khác hẳn. Bàn tay phụ nữ quả là khéo léo.

Nhìn quanh quất một hồi, Xuân chọc:

Tạm ổn, có thể làm tổ uyên ương cho chú được rồi.

-Có mà cái tổ tu hú.

Ra tới cửa, Xuân vênh mặt, mặc cả:

-Hôm nay cháu lao động cật lực, không có thì giờ học bài đâu nhá, mai chú đừng gọi cháu lên, quê lắm.

Kể từ đó, mỗi chủ nhật tôi tới ăn cơm với chị, còn hằng ngày Xuân vác sách sang tôi học bài. Chị hoàn toàn tin tưởng nơi tôi, vì chị vốn tin ở đôi mắt nhìn người của anh ngày trước. Điều ấy khiến tôi càng phải giữ gìn. Sau khi bài vở đã xong, Xuân thường giúp tôi những việc vặt vãnh. Thấy tôi ủi quần áo qua loa, Xuân giựt lấy bàn ủi:

-Để cháu làm dáng cho chú, mai còn đi gặp cô Nhung.

Cách ba ngày Xuân thay cho tôi một bình hoa hái trong vườn. Thỉnh thoảng Xuân cũng khâu cho tôi mớ quần áo đứt nút, sổ chỉ. Trong lúc vá may, con bé giống y như mẹ, cũng cần cù, cẩn thận từng ly, từng tí. Buổi chiều sau khi Xuân về, tôi thường nằm dài trên giường nệm trắng tinh, tận hưởng sự thoải mái được sống trong căn phòng ấm cúng, gọn gàng. Chính lúc ấy một câu hỏi lần đầu hiện ra:

-Phía sau tất cả những vật lộn, bon chen, người đàn ông thật sự cần gì?

Thời gian cứ thế trôi đi. Một hôm Xuân chợt hỏi:

-Chú có thích thơ không?

-Rất thích, nhưng điều kiện tiên quyết thơ phải chân thành. Những rung cảm xuất phát tự đáy lòng không bao giờ đồng hành với thứ ngôn ngữ phô trương, làm dáng.

Cô bé chợt cười bằng ánh mắt ranh ma:

- Để cháu đọc bài này, chú nghe thử xem có chân thành không nhá. Cháu không biết ngâm đâu.

Ta đốt đời mình trong men rượu đắng.
Còn gì để tiếc ngày xanh qua mau.
Hồn ta bãi trống, hoàng hôn tắt nắng,
U ám mây trời, trong đáy mắt sâu.
Thôi nhé! Ngậm ngùi bên nhau lần cuối.
Em khóc làm gì thêm xót xa nhau.
Em biết ta chăng, nửa đời phiêu bạt,
Đã chín lâu rồi những vết thương đau.
Tính sổ thời gian, đời như canh bạc,
Ta đã trắng tay, đành xin cúi đầu.
Còn ân tình này dành cho em đó,
Rồi cũng tan đi trong khói thuốc sầu
Ta nhận đắng cay và cam bỏ cuộc,
Đâu dám mơ gì hạnh phúc dài lâu.
Em hãy coi ta như làn mưa mỏng,
Thấm ướt hồn em trong cuộc tình đầu.
Liều thuốc thời gian xóa mờ kỷ niệm,
Giúp em quên dần vui cuộc tình sau.

Tôi nói nhanh:

-Bài thơ tồi tệ, làm trong hoàn cảnh tồi tệ: rượu say viết càn. Mà hình như cháu đọc thơ của chú, lếu láo thật.

-Hôm nọ dẹp phòng, cháu vớ được bài thơ vương vãi dưới gầm bàn, đọc thấy hay hay, ai dè dễ thuộc hơn mấy bài học ở trường.

Xuân chợt rụt rè:

- Thời gian có thật là liều thuốc không hở chú? Chắc nó đắng lắm.

Cùng với ánh mắt thao thức, đằng sau câu hỏi ấy, tôi mơ hồ thấy xuất hiện một con người khác, không còn là đứa bé ưa vòi vĩnh chú ngày nào. Trước mắt con người ấy, bắt đầu mở ra một chân trời mới, đầy những thắc mắc, băn khoăn, pha lẫn tò mò, lo lắng. Và lần đầu tiên, tôi chú ý tới vẻ đẹp thanh khiết, thấp thoáng nảy nở dưới màu áo lụa bạch đơn sơ. Hình như có một khoảng cách vừa nảy sinh, hình như trong cách đối xử có điều cần phải dè chừng.

Xuân chợt ngẩng lên nhìn tôi bằng đôi mắt ướt, giọng ngập ngừng rất nhẹ:

-Tình yêu là gì hở chú?

-Tình yêu là sự hòa hợp trọn vẹn giữa hai tâm hồn, phải trải qua mới hiểu. Thật ra cũng có thứ tình yêu đơn phương. Nhưng thôi, cháu hỏi làm gì?

Giọng Xuân có vẻ hờn dỗi:

-Bộ chú nghĩ cháu còn bé lắm sao? Mười bảy tuổi rồi.

Tôi cố giữ vẻ chế riễu:

-Cháu chẳng bé thì lớn với ai?

Đột nhiên tôi nhận ra trong đôi mắt đỏ hoe có ánh nhìn rất khác, vừa tha thiết, vừa trách móc, giận hờn. Lúc này tôi mới ý thức sự bất ổn đang lớn dần. Tôi vội đứng lên:

-Quên mất, chiều nay chú phải đi gặp hiệu trưởng có việc cần bàn.

Hành động này là một hình thức trốn chạy, vì tôi chưa kịp chuẩn bị đối phó. Nếu ở lại, có thể tôi sẽ yếu lòng. Nhưng trốn chạy được bao lâu?

Có những thực tế ta phải đàng hoàng đối mặt. Có những nhu cầu ta không tài nào cấm cản: quyền yêu thương dành cho người con gái đang từng bước trưởng thành. Chỉ mong sao cháu đặt tình yêu đúng chỗ.

Đêm ấy tôi trằn trọc đến khuya, ôn lại từng chặng đường suốt ba mươi năm làm người. Có chặng được đánh dấu bằng những cuộc tình bèo bọt, trong đó từng lời giả dối được nói trơn tru, trở thành công thức. Nhưng hỗi ôi! Tất cả đã góp phần làm chai đá tâm hồn. Tôi chợt nhớ đến câu kệ thầy Thiện Minh đọc trong giờ triết Đông: Khi chưa có ta, ai là ta? Giờ có ta rồi, ta là ai? Tôi là ai? Tôi là ai? Giữa cõi vô minh chợt hiển hiện bóng dáng một tay đãng tử trên dưới ba mươi, những hạt sạn trong đầu nhiều hơn hạt giống, nên hạt giống thối rữa từ từ. Như thế còn lại gì cho tôi? Tôi thiếp dần, thiếp dần trong giấc ngủ chập chờn.

Hôm sau Xuân không đến, hôm sau nữa cũng không đến. Tôi ghé lại thăm. Chị Hiền cười:

-Chả biết mệt hay lại làm nũng. Con gái thời nay đến là rắc rối.

Tôi bước vào phòng. Xuân nằm úp mặt xuống gối. Chị bảo:

-Chú mặc xác nó. Con gái lớn rồi.

Đúng, Xuân đã lớn rồi.

Ba hôm sau Xuân mới tới. Dáng điệu vẫn rụt rè, nhưng giọng nói cố làm ra vẻ mạnh dạn:

-Hôm nọ chú còn nợ cháu một câu trả lời.

-Câu gì?

Vẻ bẽn lẽn hiện trên nét mặt:

-Tình yêu là gì hở chú?

-Cháu thực sự đã đến tuổi cần biết hay sao?

Xuân cúi đầu, đôi má rực hồng,

-Cháu lớn rồi.

-Ai bảo cháu thế?

-Trái tim mách cho Xuân biết.

Lần đầu tiên nói chuyện với tôi, Xuân tự xưng tên. Dấu hiệu gì đây? Tôi cố trả lời lạnh nhạt:

-Trái tim dại khờ là thứ dễ mắc sai lầm nhất. Nó có thói quen nhìn đời toàn màu hồng, hoặc toàn màu đen. Thật ra không phải vây đâu, cuộc đời muôn màu ngàn vẻ.

Nét mặt Xuân lộ vẻ xúc động, đôi mắt tha thiết mở to, tuy dịu dàng, nhưng vẫn đủ sức thiêu cháy một thời bình yên. Đôi mắt ấy làm tôi bàng hoàng.

-Tình yêu đến cùng với những rung động rất kỳ lạ ở tận đáy tâm hồn, làm se thắt trái tim, nhất là đối với tuổi mới lớn, lần đầu tiên khao khát được nếm hương vị ngọt ngào, nhưng hãy coi chừng, nhiều khi lại rất đắng cay. Tình yêu có thể nâng ta lên thật cao, mà cũng có thể vùi cả xác lẫn hồn ta xuống vũng bùn. Cái nghiệt ngã đối với người con gái là mối tình đầu thường lẽo đẽo đuổi theo, ám ảnh suốt cuộc hành trình. Nó đặt ta trước một ngã rẽ mới: hạnh phúc hay đau khổ. Bởi thế dù trái tim ít khi tỉnh táo, nó vốn mù lòa, nhưng tối thiểu cũng phải biết phân biệt sự giả trá và chân thật. Tình yêu chân thật đòi hỏi sự tôn trọng lẫn nhau và lòng độ lượng. Người con gái mới lớn thường phải trả giá rất đắt cho sự hối hả, bồng bột của mình.

-Tình yêu thật là phức tạp, nhưng con người hình như muốn trốn cũng không chạy thoát.

-Vì nó là bước khởi đầu của vòng truyền sinh, giúp con người tồn tại

Giọng Xuân ướt sũng:

-Chú ơi! Hãy chỉ cho cháu, chỉ cho cháu con đường đúng để đi. Cháu thầy mình nhỏ nhoi, hoang mang, run sợ.

Vẻ yếu đuối của Xuân làm tôi mềm lòng, tôi muốn dang tay che chở. Nhìn ánh mắt tha thiết và đôi môi run rẩy, lòng tôi bỗng dâng lên một niềm khao khát rất chân thật, rất thanh khiết, thánh thiện. Tôi vẫn biết một nụ hôn phớt nhẹ qua môi, chẳng đủ làm hoen ố tâm hồn trong trắng, cũng không phải là tội lỗi đáng khinh, nhưng nó sẽ để lại dấu ấn thật sâu, in đậm suốt một đời người, nhất là khi người con gái ấy có một tâm hồn mong manh, dễ vỡ. Từ đó đặt ra vấn đề trách nhiệm, trách nhiệm về dấu ấn của mình. Tôi là người trần tục, sống giữa vòng trần tục, tuy đã trót lội xuống vũng bùn, nhưng vẫn còn chút tình người sót lại. Khổ thay, đó lại chính là khởi điểm của bi kịch, bi kịch của sự giằng co giữa hai đối cực. Tôi cố lấy giọng bình tĩnh giảng giải:

-Có một tiêu chuẩn để phân biệt: Tình yêu ích kỷ, giả dối là thứ tình chỉ muốn lấy mà không muốn cho. Tình yêu chân chính là thứ tình chỉ muốn cho mà không cần nhận lại.

Bản thân chú, chú biết mình đã quá cằn cỗi, để có thể đáp lại thứ tình yêu thần thánh. Chú không còn gì để cho, nên cũng không dám nhận. Đó là án phạt dành cho kẻ trong quá khứ đã trót dại, coi tình yêu như một cuộc vui.

Câu nói này tôi muốn dành cho Xuân, mà cũng là lời cảnh tỉnh, giúp tôi dừng lại trước một ranh giới quá đỗi mong manh.

Đêm hôm đó, trời Đà lạt bỗng dưng trở lạnh, cái lạnh cắt da xẻ thịt vây bủa bốn bề. Tôi chợt cảm thấy dường như có bàn tay xiết chặt lấy cổ. Hơi thở bắt đầu nặng nề, kèm theo tiếng rít khò khè. Tôi giật mình sợ toát mồ hôi: cơn suyễn. Cơn suyễn kéo đến thật mau, như một trận lũ không hề báo trước. Hằng chục năm qua, căn bệnh quái ác tưởng đã buông tha không hành hạ tôi. Vùng khí nóng Sài Gòn giúp thể xác giữ mực bình thường. Bệnh suyễn kỵ nhất hơi men, chỉ cần một hớp nhỏ đủ làm bệnh nhân nghẹt thở trong vòng một giây. Tôi đã uống thứ rượu trong vắt được gọi là nước mắt quê hương ở Long An, tôi đã say gục ở bến Ninh Kiều, vậy mà cơ thể không hề phản ứng lại. Sự chủ quan đã phải trả giá. Chỉ cần một mũi Théophiline hay vài viên Asthmal, cơn bệnh quái ác sẽ từ từ hạ xuống. Bằng chút sức lực cuối cùng, tôi lục thật kỹ dưới đáy vali. Vô ích, đã từ lâu lắm, tôi không đề phòng dự trữ thuốc men. Cơn suyễn không cho tôi nằm, cơn suyễn không cho tôi ngủ. Phổi nóng rát, hai tay phải chống thẳng, ghì chặt lấy thành giường, để đỡ cho lồng ngực đủ sức căng ra. Toàn thân lạnh ngắt mà vẫn nhơm nhớp mồ hôi. Tôi vịn tường, men từng bước nhỏ xuống bếp tìm chút nước nóng. Tấm gương treo tường phản chiếu một khuôn mặt, già không ra già, trẻ không ra trẻ. Hai mắt thâm, lõm vào, lở đờ như mắt cá chết. Má hóp, tóc mai dính bết vào thái dương. Ai vậy? Đôi môi khô nứt, miệng há hốc. Ai vậy? Ông thầy ngày ngày vẫn tươi cười trên bục giảng đó ư? Cổ rút lại, hai vai nhô lên thụt xuống, lồng ngực phập phồng hết cỡ, cho hơi thở khò khè từng sợi thoát ra. Ai vậy? Con người đã rong chơi giữa đời bằng nụ cười ngạo mạn đó ư? Phút chốc tôi nhận ra con người thật của mình, rất nhầy nhụa.

Tôi bỗng nhớ tới lúc ngồi bên bàn thờ anh. Tôi đã đọc được ý nghĩ trong đôi mắt đầy dấu chân chim của chị. Đôi mắt ấy nói với tôi một điều: không gì cay đắng, xót xa cho bằng nỗi lòng thiếu phụ rất yêu chồng, mà phải nửa đời goá bụa. Cảnh ngộ ấy có nên để tái diễn lại không? Lại vẫn một người con gái rất mong manh, dễ vỡ, lại vẫn một người đàn ông tâm hồn tràn đầy mặc cảm và thể xác bệnh hoạn mỏi mòn. Tôi cũng nhớ câu chị nói: bây giờ chị rất sợ… sợ nhất là chứng bệnh phổi.

Suyễn không phải ho lao, nhưng cũng là bệnh phổi, một chứng bệnh không bao giờ chữa dứt được. Vậy thì. thử ngồi tính sổ lại coi: đậu tú tài hạng bình, tốt nghiệp đại học hạng bình. Ba mươi tuổi đầu mới chợt hiểu ra: bằng cấp không đủ làm nên con người. Sức khỏe là con số không. Tiền bạc trong tay ước độ vài nghìn. Sau lưng có những mối tình vụng về đánh mất, trước mắt có một cuộc tình đụng nhẹ sẽ tan. Thử ngồi tính sổ lại coi… còn gì để tính.

Cái khổ của bệnh suyễn là thể xác tuy kiệt quệ, nhưng tinh thần hoàn toàn tỉnh táo. Cứ thế, dĩ vãng quay vòng.

Hôm sau bệnh tuy bớt, nhưng tôi phải nghỉ dạy.

Buổi trưa có tiếng bước chân ngập ngừng dừng trước của phòng, rồi tiếng gõ rụt rè. Tôi cố giữ mình không ra mở cửa. Không thể gặp Xuân lúc này. Cơn suyễn làm bệnh nhân thay đổi hoàn toàn, dù phong độ cách mấy, chỉ cần một đêm cũng trở thành bệ rạc.

Tiếng gõ mạnh hơn, rồi một giọng lạc lõng:

-Chú ơi! Chú ở đâu rồi?

Tôi ở đâu rồi? Tôi ở một thế giới khác, thế giới ấy không dành cho những tâm hồn mong manh, thanh khiết như Xuân.

Tiếng gõ lại vang lên, dồn dập. Tiếng gọi đứt quãng, nghẹn ngào:

-Chú ơi! Mở cửa.

Tôi không thể mở. Đây là giờ phút định mệnh, lưỡi gươm đã chém xuống và tôi là tội nhân thụ hình.

Rất lâu, không biết khoảng bao nhiêu phút, tiếng chân rất quen lại vang lên, bối rối, xa dần, xa dần. Tiếng chân bước trên lối sỏi, trên lớp lá khô, xào xạc, xa dần… xa dần đời tôi. Tôi muốn tung cửa chạy ra.

Buổi chiều, tôi ngồi vào bàn, viết vội lá đơn xin nghỉ việc, một lá thư xin lỗi anh hiệu trưởng, thêm ít điều dặn dò nhờ Xuân chuyển lá đơn, vì tôi có việc rất gấp phải đi. Sau đó tôi chép lại bài thơ Xuân đọc hôm nào, lấy thước kẻ chặn tất cả trên bàn. Cuối cùng, suy đi nghĩ lại, tôi xé vụn bài thơ vứt vào sọt rác. Còn gì rỗng tuếch cho bằng:

Liều thuốc thời gian xoá mờ kỷ niệm.

Tôi khép hờ cửa phòng, rồi xách hành lý ra đi.

Con đường có nắng hoàng hôn mà vẫn lạnh. Giờ này chắc đã hết xe về Sàigòn. Tôi ghé vào tiệm thuốc Tây rồi tìm phòng trọ. Căn phòng lạnh lẽo, trơ trẽn, vắng tiếng cười và thiếu hẳn hơi thở ấm. Giữa không gian trống rỗng, hoang vu, tôi mường tượng tiếng bước chân rất quen, bối rối, lạc lõng, xa dần, xa dần. Bước chân mang đi tất cả, xa dần, xa dần…

***

Gã họ Nguyễn gục xuống bàn từ lúc nào, tôi hình dung ra chiếc bóng dĩ vãng quái ác đè nặng trên đôi vai gã, dìm đầu gã xuống. Tôi nói bâng quơ:

-Canh bạc đã cuốn chiếu rồi, còn ngồi mà tiếc của, đứng dậy thôi.

Gã ngẩng phắt lên vặc:

-Mày là thằng ngu, biết cóc gì mà nói. Tình yêu không bao giờ giống như canh bạc.

Tuesday, November 13, 2007

CÓ NHAU TRONG ĐỜI

Vũ Lưu Xuân

Còn đâu nữa là loạt truyện ngắn liên hoàn, hiện về như chuỗi hồi ức của một người đầu bạc. Truyện xoay quanh năm nhân vật trẻ tuổi, lấy Sài Gòn thập niên 60, TK. XX làm bối cảnh …- Truyện 2
Vừa thấy tôi, Thủy đã hỏi:

-Vũ này, hôm rầy có gặp anh Nguyễn không? Từ bữa đó tới nay đi đâu mất biệt.

-Bộ cô nhớ nó hả?

-Kể ra cũng có chút quan tâm.

-Nó xuống tóc làm sư rồi, cô quan tâm thì vào chùa mà rước nó ra.

-Lãng xẹt.

-Giỡn cho vui, hiện giờ nó đang đóng cửa luyện công. Mỗi ngày cu cậu đốt khoảng hai bao Bastos xanh,

-Bộ muốn đốt phổi thành tro à? Không ngờ cái ông đầu bò, đầu bướu, đến lúc bị ái tình nó vật lại mềm như cọng bún. Mối tình của ông ấy đau thì có đau, nhưng kể ra cũng đẹp.

Đột nhiên Thủy dừng ngang. Tôi đùa:

-Đừng nói người ta, đến phiên cô chưa chắc đã được bằng cọng bún thiu.

Tự nhiên Thủy ngồi thừ ra, nét mặt sa sầm, vướng vất vẻ ảm đạm. Tôi hơi ngạc nhiên. Từ ngày quen Thủy, lâu dần thân thiết, bọn tôi có thói quen bông đùa bốp chát, trừ những câu nham nhở, vì hiểu rõ nhau, nên chẳng ai để bụng. Dáng đăm chiêu chứa chất nỗi buồn khiến tôi thắc mắc. Có thể lời nói vô tâm đã động tới khu vực nhạy cảm của người con gái. Tôi xuống giọng:

-Giận à? Thôi lạy cô mớ lạy.

-Giận ông thì ăn cái giải gì.

Tôi vội làm lành:

-Quán vắng như chùa Bà Đanh, hay là dẹp quách, đi dung dăng dung dẻ.

Thủy suy nghĩ một chút rồi gật đầu:

-Được thôi. Có mục gì không?

-Có lẽ nên bắt chước bọn choai choai, rúc vào xi nê cho nó quên cái tuổi già.

Lại một lần nữa, hình như lời nói của tôi vô tình chạm đến nỗi đau. Thủy lặng lẽ đóng quán, theo tôi ra ngoài. Bên ngoài cơn mưa chiều vừa dứt, nắng chợt hoe vàng, rơi trên vũng nước long lanh. Tới góc Lê Lai, Thủy quay sang hỏi:
-Phim gì đây?

-Nghe nói Lê Lợi chiếu phim Cuốn theo chiều gió , mình ghé thử.

Chúng tôi bước lên lầu, khá đông, tìm mãi mới được hai chỗ trống.

Trên màn ảnh, mối tình cay đắng, nghiệt ngã giữa những mất mát, phân ly của chiến tranh làm tôi xúc động. Thủy lặng lẽ theo dõi. Trong bóng tối, đôi mắt long lanh hình như ươn ướt. Tôi nói cho khuây:

-Cô coi kìa, Clark Gable cười nửa miệng trông có đểu không? Vậy mà kiểu cười ấy khối cô mê đấy.

-Sao anh không bắt chước đi?

Vừa lúc ấy, trên màn ảnh hai tài tử quấn chặt vào nhau. Tôi nói nhanh không kịp suy nghĩ:

-Được, chả phải bảo, tôi bắt chước đây.

Tôi cùi xuống, Thủy không kháng cự. Nhưng hương vị ngọt ngào chưa kịp thấm, tôi đã khựng lại. Trong bóng tối, đôi mắt Thủy mở to, lạnh nhạt, người như khúc gỗ. Đó là kiểu cách của người đàn bà chai sạn, đã từng lăn lóc nhiều năm giữa đời. Một người con gái như Thủy có thể vậy sao? Tôi mơ hồ cảm thấy ở chốn sâu thẳm có một vết thương, đã biến tâm hồn thành đá. Sự tê liệt thần kinh cảm giác chính là một án phạt, nó báo hiệu chứng lãnh cảm trong cuộc sống lứa đôi, từ đó đe doạ hạnh phúc gia đình. Cái án ấy dường như đang treo lơ lửng trên đầu người con gái, tuy vui vẻ, đằm thắm, nhưng vẫn dung dị, đoan trang.

Vãn hát, tôi rủ:

-Hay tụi mình tới Brodard uống cà-phê.

-Tới đó ngồi đồng cho Tây nó cười. Thôi, về quách.

Cuối cùng buổi chiều rong chơi chỉ để lại không khí nặng nề. Đi hết con đường Nguyễn Du có lá me bay, chúng tôi rẽ qua nhà thờ Đức Bà. Đang đi, Thủy bỗng dừng lại, bâng khuâng, rồi kéo tôi vào. Không khí tôn nghiêm, âm u làm cho ngôi giáo đường cổ kính có vẻ sâu hút. Hai hàng cột sừng sững khiến con người cảm thấy mình yếu đuối, nhỏ nhoi. Thủy qùy gối, chắp tay, mắt đăm đăm nhìn cây Thánh giá, Thánh giá đứng chơ vơ giữa nền gạch nâu, lạnh lẽo, ảm đạm.

Thủy qùy gối, bầt động khá lâu, không biết cô đang nghĩ gì? Tôi như nhìn thấy ở cô một người con gái khác, không giống với Thủy lạnh lùng, vô cảm trong vòng tay tôi, cũng không phải Thủy vẫn nhìn đời bằng ánh mắt diễu cợt, hình như gần giống với người con gái đôi mắt khép lại, khi vừa ngâm dứt bài thơ Màu thời gian. Thủy qùy đó, ngưng đọng, mái tóc đen huyền phủ gần kín khuôn mặt hầu như đang từ từ tan loãng vào hư vô. Hư vô là khoảng sâu hút hồn, ở đó con người gặp lại chính mình, sau khi đã bóc trần lớp vỏ bọc đời thường. Theo hướng mắt của Thủy, tôi ngẩng nhìn cây Thánh giá. Tôi thấy một hình hài trần trụi, đau đớn, đôi mắt ngước lên đợi chờ. Tôi chợt nhớ Tân Ước đã kể: trên đường lên núi Sọ, con người trần trụi, thương tích đầy mình, đã ba lần chúi ngã, và ba lần chỗi dậy, tiếp tục hành trình.

Bước ra ngoài, tôi hỏi:

-Thủy có đạo à? Sao tôi không biết?

-Em không có đạo, nhưng mỗi lúc mệt mỏi, em lại đến đây.

-Thủy thấy gì?

-Em thấy thân phận làm người rất đơn độc, giá buốt.

-Cũng cần phải hiểu thế này, con người dù trần trụi, đơn độc, nhưng sau những lần vấp ngã, vẫn có thể thẳng lưng đứng dậy, tiếp tục gánh nặng giữa đời.

Câu nói của tôi như một kiểu thăm dò. Thủy có vẻ thiếu tin tưởng:

-Có đúng vậy không?

-Đúng vậy, đó là giá trị của cuộc sống. Quá khứ là cầu nối với hiện tại, nhưng nếu nó là chiếc cầu gỗ mục, sao không thẳng tay chặt bỏ nó đi.

Thủy cúi đầu, dáng vời vợi đăm chiêu. Tôi nắm tay Thủy, nhẹ nhàng dẫn đi. Trời chiều dìu dịu, hai chiếc bóng nhỏ mất hút dưới hàng cây dầu. Tà áo lụa Hà Đông quấn quýt bước chân hai người. Vài ngọn tóc dài theo gió vướng vào mặt tôi, mang theo mùi hương nhè nhẹ.

Tôi ghé tai Thủy:

-Thủy này, tụi mình trông cũng tình ra phết.

Thủy không trả lời, đôi mắt vướng vất nỗi buồn. Tôi cố chọc:

-Giở chứng chết hay sao mà câm như hến vậy?

Thủy vẫn yên lặng, sự yên lặng khác thường làm tôi giật mình.

Về tới quán, tôi giúp Thủy dọn lại hàng, rồi ra quầy làm hai ly đá lạnh. Tôi cố phá vỡ bầu không khí như muốn đóng băng:

-Đứa nào vào quán chịu gọi tôi bằng ông chủ, bớt cho nó nửa tiền.

Con ốc đã chui vào vỏ, hình như tìm lại được sự bình yên. Thủy đốp lại:

-Đốt ông đi

-Hơi một tí cũng đòi đốt. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ, cô đốt mấy chục đứa rồi?

-Đứa nào ăn nói linh tinh là em đốt tất.

-Cả tôi sao?

-Anh là chúa linh tinh.

Tôi làm bộ vả vào miệng:

-Cái miệng ăn mắm ăn muối, từ giờ tôi còn phát ngôn bừa bãi, cô cứ lấy kéo cắt cụt lưỡi đi.

-Được, nhớ nhé.

Vẻ băng giá của Thủy lúc trong rạp không lúc nào rời trí óc tôi. Tôi cố gợi:

-Lúc ở trong rạp ấy mà, giận lắm phải không?

-Chuyện gì?

-Lại còn phải hỏi.

-Nụ hôn đầu đời, thử một lần cho biết. Nhạt phèo.

-Cô có tài nói đùa như thật.

Thủy phớt lạnh:

-Anh không tin cũng phải.

Thái độ thản nhiên đến lạnh lùng, pha chút ngạo mạn làm tôi bàng hoàng.

-Cô thực sự phức tạp hơn tôi vẫn tưởng.

-Vậy sao? Anh hiểu em được mấy phần?

-Có lẽ rất ít.

Quen nhau gần chục năm rồi, tôi mới khám phá ra ở Thủy một con người rất khác. Trong đời sống, chúng ta có thói quen dùng vỏ bọc để giấu kín một vết thương, có khi vết thương nung mủ, mà ngoài mặt vẫn cố tươi cười. Đó chính là bi kịch, bi kịch của những ốc đảo.

-Hỏi thật nhá, chẳng lẽ bằng này tuổi đầu Thủy chưa từng yêu ai?

Nét mặt Thủy lộ vẻ hoang vắng, bâng khuâng:

-Cũng không rõ nữa, đã lâu lắm em không dám hỏi thật lòng mình.

-Vì ở đó có giấu một vết thương?

Tôi lặng lẽ theo dõi phản ứng của Thủy. Câu hỏi đã tiếp cận vùng nhạy cảm nhất, có thể làm tim Thủy nhói đau. Nhưng dầu sao vấn đề cần phải đặt ra một lần, vì không biết từ lúc nào, tôi rất quan tâm đến người con gái ấy.

Chặp sau, Thủy ngẩng nhìn tôi ngập ngừng:

-Năm mười bảy, lúc ấy em đang học đệ nhị Trưng Vương. Nhân dịp tất niên, em theo chị đi dự hội Tết Văn khoa. Ở đấy em đã gặp một người, bạn học của chị. Ánh mắt người ấy như xoáy vào hồn, là em bàng hoàng run lên, làm tim thắt lại như nghẹt thở, làm má bốc nóng đỏ bừng. Sau đó em đi chơi với người ấy hai lần, nhưng lúc nào cũng có chị em bên cạnh. Hai lần đi chơi khiến em như lạc vào thế giới khác, ở đó cái gì cũng đẹp và lạ. Con đường rất quen như mới đi lần đầu. Ở đó mỗi lời em nói như không đuổi kịp cảm xúc, nên rất ngô nghê. Ở đó mỗi cử chỉ bình thường lại như dại khờ, lúng túng. Cuối cùng người ấy viết cho em một lá thư. Tay em rất run khi nhận. Mắt em hoa lên, nhưng vẫn cố đọc đi, đọc lại từng hàng. Em đã úp lá thư trước ngực, đã khóc không hiểu vì sao. Em đã thức trắng đêm viết thư trả lời, kín ba trang giấy. Lá thư chưa kịp gửi, một biến cố xảy ra và không bao giờ em gửi đi nữa, không bao giờ, dù em vẫn giấu lá thư dưới gối để đọc hằng đêm. Vũ à, đó có phải tình yêu không? Tuổi mười sáu, mười bảy chưa có gì thực sự định hình. Nếu đó là tình yêu, thì em đã bị những bất trắc giữa đời cướp mất.

-Thế nửa chừng xuân thằng đểu rút dù à? Hay cô thấy nó cặp kè đứa khác?

-Không phải đâu, em tự rút lui, vì thấy mình không còn xứng đáng.

Ánh mắt cam chịu của Thủy tràn đầy vẻ thất vọng. Thủy kết thúc câu nói bằng tiếng thở dài.

-Thủy ạ! Tôi thật sự không hiểu câu em thấy mình không còn xứng đáng muốn ám chỉ gì?

Thủy có vẻ bối rối, đột nhiên đổi qua chuyện khác:

-Lúc trước anh ở Đại học xá Minh Mạng phải không?

-Tôi tốt nghiệp hơn hai năm rồi.

-Anh nói chi lạ vậy?

-À, thế này. Bọn tôi coi Đại học xá là thứ đại học không giáo trình, không giảng sư, không thi cử, nhưng lại học được ở đó khối điều.

-Nghe nói Đại học xá các ông là cái tổ qủy.

-Theo một nghĩa nào đó đúng là tổ qủy. Rất nhiều cô, cả sinh viên lẫn học sinh, lúc bước vào còn là con gái, khi trở ra đã thành thiếu phụ. Có một cô nữ sinh mười sáu, sau ngày tháng vui chơi, cuối cùng nhập băng xăng xú xăng xì.

-Băng gì vậy?

-Xăng là không, còn xú với xì, ba cái món lỉnh kỉnh, bọn đàn bà con gái các cô tự hiểu lấy. Xăng xú, xăng xì cho nó mát mẻ tấm thân, lại tiện việc sổ sách.

Thủy đỏ mặt

-Tôi lại cắt lưỡi ông bây giờ.

Tôi cười giả lả:

-Xin lỗi cô, em chừa cho đến chết.

Sau hồi yên lặng, Thủy chợt hỏi:

-Anh có biết Quang ở dãy D không?

-Biết quá đi chứ, tụi tôi vẫn gọi nó là dâm tặc hái hoa Điền Bá Quang.

Giọng Thủy chua xót:

-Anh ấy có họ xa với em, đã mấy lần rủ em đến chơi. Một hôm có việc tới đường Đồng Khánh, đi ngang Đại học xá, gặp cơn mưa lớn, em tạt vào trú chân, cũng để thăm chơi cho biết.

Thủy ngường lại khá lâu, ánh mắt xa xôi, gắn vào khoảng trống.

-Anh ấy đã pha cho em một ly cà-phê, uống xong em thiếp đi. Lúc tỉnh dậy, thấy anh ấy đang nằm bên cạnh.

-Tôi thực sự bàng hoàng, không biết nói gì cho phải, trong lòng tràn ngập cảm giác xót xa.
Tới lúc này tôi đã hình dung ra được vết thương. Đó là nỗi mất mát cay đắng đối với người con gái. Đó là nguyên nhân là thư đã viết mà không bao giờ gửi đi. Đó là nguyên nhân nụ hôn đầu đời nếm thử chỉ thấy nhạt phèo. Nhiều gã con trai coi hành vi tước đoạt như một chiến tích đáng tự hào. Sự ích kỷ, lạnh lùng của con người có thể tàn nhẫn đến thế sao?

Nhìn bên ngòai, trời chạng vạng, tôi giật mình:

-Chết cha, tối nay kẹt đi gõ đầu trẻ, muộn mất rồi.

Tôi vội vã đứng dậy, trước khi đi còn quay lại nói nhỏ:

-Lâu nay cứ cô cô, tôi tôi, từ rày tôi thử xưng anh em xem có ngọt không nhá.

Trên đường, tôi cảm thấy rất ân hận. Tôi hình dung ra khuôn mặt bẽ bàng của Thủy lúc bỏ đi. Một khi sự thật đã được lật trắng, thái độ hấp tấp của tôi rất giống với kiểu chạy làng, và lý do nêu ra dễ biến tôi thành thứ diễn viên hạng bét. Lúc này chỉ cần một cử chỉ thiếu tế nhị, đủ làm người con gái ấy tái phát vết thương chưa hẳn đã lành.

Buổi tối bước vào lớp học, tâm trạng căng thẳng, tôi như kẻ mộng du. Có tiếng xì xào trong dãy bàn nữ sinh:

-Tụi bay trông ông ấy hôm nay có kỳ cục không? Chắc lại thất tình.

Tôi trừng mắt nhìn xuống chỗ phát ra tiếng nói.

Tan học, tôi muốn trở lại quán thật nhanh, muốn ôm lấy đôi vai run rẩy, hôn lên làn tóc rối. Nhưng một vấn đề quan trọng hơn đã giữ chân tôi lại. Tôi sẽ đến với Thủy bằng tư cách gì? Một người anh? Một người bạn? Hay một người tình? Nếu là người tình, tôi cần xét lòng mình thật kỹ. Đối với tôi, vấn đề không phải là những mất mát vật chất vượt ra ngoài tầm kiểm soát của mỗi chúng ta. Vấn đề chính là vị trí thật sự của Thủy trong lòng. Thủy đã nếm đủ cay đắng giữa đời, tôi không thể biến cô thành cái bến, để đến và đi bất chợt. Đích thực trong nhiều năm nay, tôi đã quan tâm đến người con gái ấy, tôi muốn cùng chia sẻ niềm vui nỗi buồn. Nhưng mỗi lúc tiến tới, tôi lại đụng phải thái độ chừng mực của Thủy, đó là thứ rào cản dịu dàng nhưng vẫn chắc chắn. Bây giờ tôi đã hiểu, nó được tạo thành bằng những mặc cảm, bằng nỗi ám ảnh không bao giờ nguôi.
Thủy không đẹp, nhưng vẻ dịu dàng, thanh khiết hiển hiện trên đôi mắt. Vết nhơ thể xác không đủ sức hủy hoại sự trong trắng tâm hồn, một tâm hồn rất nhạy cảm trước mọi vấn đề, trừ vấn đề tình yêu. Ở khu vực đó, cảm xúc hầu như tê liệt. Tôi phải đánh thức khu vực đó dậy, trả lại cho Thủy một thứ quyền thiêng liêng: quyền yêu thương và được yêu thương.

Ngày thư nhất, tôi không đến; ngày thứ hai, tôi cố giữ mình không đến; ngày thứ ba, tôi biết rõ mình không thể không đến. Đó là cảm giác cần có nhau trong cuộc đời.

Bẩy giờ tối tôi ghé quán. Quán vắng ngắt. Thủy ngồi ở cuối phòng, lưng dựa tường, nhìn ra cửa. Nếu thật sự đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, thì tâm hồn đó cô độc, giá buốt biết chừng nào.

Thấy tôi, giọng Thủy chua chát:

-Anh đến đấy à? Đã tưởng một đi không trở lại.

Tôi nhìn Thủy bằng ánh mắt trìu mến.

-Lời trách móc chứng tỏ trong thâm tâm em vẫn mong anh đến, phải không?

-Ghê nhỉ, lại còn lên chức nữa.

-Thủy ạ! Có lúc chúng ta phải gạt bỏ mọi thứ tự ái vặt, để cởi mở với nhau hơn. Ba ngày anh không đến, để Thủy với anh có thời gian hiểu rõ lòng mình. Chúng ta không còn ở tuổi mười tám, đôi mươi, tự đánh lừa mình bằng thứ tình cảm bồng bột, nhất thời.

-Anh đặt sai vấn đề rồi, em đâu có gì cần hỏi lòng mình.

Tôi kéo ghế ngồi bên Thủy.

-Nói chuyện với em, anh luôn đụng đầu phải những bức tường. Giờ đây anh đã hiểu và bức tường ấy không đủ sức ngăn anh lại.

Thủy biểu lộ một thái độ dứt khoát:

-Em có một nguyên tắc: không chấp nhận sự thương hại của bất cứ ai, kể cả anh.

Vẻ cứng rắn bên ngoài che giấu một tâm hồn hết sức mong manh. Tôi nhìn thẳng vào mắt Thủy:

-Thủy sai rồi, ở đây tuyệt đối không có sự thương hại. Chúng ta không có quyền thương hại kẻ khác, một khi chính bản thân mình chưa hề hoàn thiện. Sự thương hại bao hàm thái độ đặt mình vào vị trí cao hơn, từ đó cúi xuống đưa tay cứu vớt. Chúng ta bình đẳng trong tư cách làm người, yếu đuối và sai phạm, nên chỉ có thể đến với nhau bằng thái độ cảm thông, chia sẻ.

Giọng Thủy có phần nào mềm ra:

-Anh biết không? Ở đời có những mất mát quá lớn, người ngoài cuộc không bao giờ cảm nhận được.

-Em lại sai rồi. Thế nào là mất mát quá lớn? Em đã đứt tay, chảy máu bao giờ chưa? Về mặt sinh lý, biến cố ấy khác gì tai nạn đứt tay, chảy máu. Còn về mặt đạo đức, tâm lý, có những điều cần đánh giá cho thật sít sao.

Thủy nhìn tôi chờ đợi.

-Sau biến cố đó, em có lao vào những cuộc tình hối hả không?

-Không hề.

-Em có uống rượu, hút thuốc, có tới vũ trường, hộp đêm không? Em đã làm gì?

-Em đóng cửa lại, em thi rớt, bỏ học. Năm sau chị đi lấy chồng, em một mình coi quán, sống cuộc đời con ốc giấu mình trong vỏ, và khước từ mọi lời tình tự, yêu thương.

-Như vậy, về mặt đạo đức, em phải nhìn vào đó để thấy rõ giá trị của mình. Trong hoàn cảnh em, một số cô gái đã buông thả theo kiểu yêu nhau đi, chiều hôm tối rồi. Họ quan niệm không còn gì để mất. Như vậy, khởi đầu là một mất mát rất nhỏ, kết thúc là một mất mát lớn hơn nhiều, đánh mất chính mình và mất luôn tư cách làm người.

Về mặt tâm lý, thái độ ốc chui vào vỏ chính là sai lầm lớn nhất của em hằng chục năm nay. Em đã tự đặt mình vào khuôn khổ phán xử chung chung của đời thường, từ đó tự đày đọa, đắm chìm trong mặc cảm. Chúng ta không có quyền bất công với chính bản thân. Trong mắt anh, em mới chỉ một lần đứt tay, chảy máu.

Thủy đứng dậy, bước tới, dựa lưng vào cửa. Hàng cây dầu sừng sững cắt ngang, khiến cho không gian có những khoảng trống tràn ngập bóng tối. Thủy đứng đó, nhỏ bé, câm lặng. Hình như trước những vấn đề gai góc của cuộc sống, người con gái này có thói quen giam mình trong bóng tối, để chỉ phải đối diện với một sự thật lờ mờ. Giọng Thủy ướt sũng:

-Vũ biết không? Khi vừa tỉnh dậy, câu đầu tiên em nghe được là nó nói nó yêu em. Câu nói đó làm em kinh tởm. Từ đó em trở nên dị ứng với chuyện yêu thương. Tình yêu tầm thường như vậy sao? Nó có tồn tại hay không? Hay chỉ là một ảo ảnh trang sức cho cuộc đời? Mà ảo ảnh thì luôn luôn dễ vỡ.

Trong bóng tối, tôi thấy một đôi mắt long lanh, vừa đau đớn, vừa uất hận.

-Thủy ạ! Bắt chấp mọi thử thách, tình yêu luôn tồn tại. Anh không nghĩ như lời một triết gia: L’enfer, c’est les autres. Tha nhân không bao giờ là địa ngục. Tha nhân là đối tượng chia sẻ. Nếu tha nhân chính là địa ngục, chúng ta sẽ tuyệt vọng trong nỗi cô đơn. Vuợt lên tất cả, tình yêu là khát vọng chia sẻ cuộc đời. Chúng ta chỉ có một cuộc đời, nên sự chia sẻ đó mang ý nghĩa trọn vẹn nhất.

Tôi dừng lại để lời nói thấm sâu vào lòng Thủy, rồi tiếp:

-Nhiều lúc anh muốn nhìn thật sâu vào mắt em, muốn xiết chặt bàn tay em. Đó là hành động đi tìm sự cảm thông, chia sẻ, vì chúng mình cần có nhau trong cuộc đời. Đó là tình yêu.

Em có bao giờ muốn dựa đầu vào vai anh không? Đó là dấu hiệu của sự tin tưởng, phó thác. Đó là tình yêu. Nó đánh bạt sự cô đơn, tạo cho chúng ta cảm giác an toàn giữa cuộc sống muôn vàn bấp bênh.

Chúng tôi đứng sát vào nhau, lặng lẽ, giữa cái giá lạnh của trời về đêm.

Con đường Pasteur giờ này đã vắng. Cơn mưa chiều còn để lại nhiều vũng nước trên lòng đường. Một chiếc xe hơi vút qua, nước bắn tung tóe về phía chúng tôi. Tôi chỉ:

-Đó em xem, chúng ta đứng trong nhà vẫn bị xe tạt ướt. Bất trắc thường xuyên xảy ra, bởi vậy cần có thái độ tỉnh táo trước những biến cố trong cuộc sống.

Chúng tôi quay vào. Thủy thu mình trên ghế, chiếc ghế cô đã ngồi gần mười năm qua. Ở đó cô đã tìm được sự quên lãng, nhưng không phải sự bình yêu. Sự quên lãng có khi bị đánh thức dậy. Thủy cần sự bình yên.

Thủy nhìn thẳng vào mắt tôi, lần đầu tiên tôi bắt gặp ánh mắt trìu mến, tha thiết. Sự trìu mến, tha thiết đã sống lại, trong một tâm hồn đã sống lại.

Tôi tới quầy thắp hai ngọn nến, rồi tắt hết điện. Trong một buổi tối gai gai lạnh, tôi rất thích ánh nến lung linh, nó có vẻ ấm áp. Tôi trở lại ngồi bên Thủy.

-Thủy ạ! Nếu bây giờ anh nói anh rất cần có em trong cuộc đời thì đó là một lời nói thật lòng. Nghe này, anh nói nhé.

Thủy đặt một ngón tay lên môi tôi:

-Khỏi cần, em hiểu.

Không biết từ lúc nào, bàn tay Thủy đã tìm tới tay tôi, mười ngón đan chặt vào nhau, cố san sẻ một chút hơi ấm. Chúng tôi ngồi trong bóng tối chập chờn. Có khi bóng tối đồng lõa với tội ác, cũng có khi bóng tối là một lời mời. Thủy ngước nhìn tôi, ánh mắt sâu thẳm, dịu dàng, tin tưởng, muôn vàn tin tưởng. Tôi cúi xuống, đôi mắt đó từ từ khép lại. Tôi cảm nhận được ở Thủy sự rung động đến tận cùng châu thân, cảm nhận được nhịp tim rối rít, cảm nhận được vị ngọt của đôi môi, vị mặn của nước mắt, và trạng thái bồng bềnh của hai tâm hồn.

Tôi thì thầm:

-Có ngọt không? Hay vẫn nhạt phèo?

Thủy xô nhẹ tôi ra:

-Người ta nhìn, kỳ thấy mồ.

-Đứa nào nhìn, ông đâm mù mắt.

-Đứa này.

Khỏi cần ngẩng lên, tôi cũng nhận ra giọng của gã.

-Đồ phá đám.

-Tụi bay đang âm mưu điều gì mà bảo tao phá đám.

Tôi nói nhỏ chỉ đủ cho Thủy nghe:

-Hay anh bảo thật cho nó biết nhá, để nó còn lo quà mừng.

Thủy dí ngón tay vào trán tôi. Trong ánh nến lung linh, tôi vẫn thấy cặp mắt nguýt dài rất sắc.

-Đốt ông đi, cái thói linh tinh suốt đời không bỏ.

Thằng Nguyễn chợt đăm chiêu:

-Tết sắp đến rồi, nhìn bọn mày, tao lại nhớ chúng nó.

Đôi mắt Thủy mơ màng:

-Em cũng vậy, em nhớ một thời đã mất, biết bao giờ mới có cuộc họp mặt đông đủ như ngày o.

Sunday, November 11, 2007

CÁNH CHIM NÁT ĐẠN

Vũ Lưu Xuân


Cuộc đời được mấy ngày vui, bởi thế tôi luôn thích những kết thúc tròn đầy. Đồng hồ nhà hàng xóm gõ mười một tiếng, khuya rồi. Tôi đốt điếu thuốc cuối cùng trong ngày, ngồi trầm ngâm bên trang giấy viết dở, trang giấy còn một khoảng trống, tôi sẽ viết lên đó đoạn kết thật có hậu, để đem đến cho đời một chút niềm vui, một chút niềm tin. Có tiếng trẻ con ọ oẹ, tiếng đứa con trai đầu lòng, và vợ tôi, mặc dù khiếm thính, với bản năng làm mẹ, đã chợt thức giấc. Tôi đến bên giường, vợ tôi ngước mắt nhìn lên, mỉm cười, nụ cười trong sáng, rạng rỡ như trời mùa xuân. Tôi luôn thích những kết thúc có hậu, và như thế, xin cảm ơn đời .

Năm ấy, tôi từ quê lên Sài Gòn thi đại học. Gã thanh niên tỉnh nhỏ, nhiều hoài bão, nhiều ước mơ, mang theo những lời mẹ dặn, bà mẹ trẻ, góa bụa, cố nuôi con thành người. Tôi phân vân giữa nhiều chọn lựa, cuối cùng thi đậu Đại học Kinh tế. Từ đó, tôi tới trọ trong căn phòng trên gác gỗ, chưa đầy sáu mét vuông, đó là phần không gian dành cho những toan tính, ước mơ.

Điều trùng hợp, chủ nhà, quen gọi bằng dì Năm, cũng là một góa phụ trẻ. Dì làm nghề may, cặm cụi với mớ hàng của bà con lối xóm, đắp đỗi qua ngày, và Hồng với tôi, cô bé mười sáu tuổi, đều là con một, mồ côi cha. Mấy ngày đầu, tôi hơi ngạc nhiên trước hình ảnh một cô bé nhỏ nhắn, đôi mắt trong suốt, dịu dàng, cả ngày lặng lẽ, hết vào lại ra, không nói một lời, lâu lắm mới thấy khuôn mặt thanh tú phớt một nụ cười rất nhẹ. Tôi mường tượng ánh mắt, nụ cười ấy có nghìn điều muốn nói. Vốn là con một, cha mất sớm, lớn lên trong cô độc, tôi hằng ước ao có đứa em gái như Hồng, để chiều chuộng, săn sóc. Ít ngày sau, tôi khám phá ra cô bé dễ thương ấy mang khuyết tật khiếm thính từ khi lọt lòng, chính vì thế tôi càng mong muốn gần gũi Hồng nhiều hơn, để giúp đỡ, chia sẻ những khó khăn, để động viên em trước những nhọc nhằn, hoang mang trong cuộc sống. Tuy nhiên với cô gái mới lớn, hình như có một khoảng cách tế nhị khiến em dè chừng. Nhưng khoảng cách cứ thu hẹp dần, cuối cùng, cô bé cũng coi tôi như người anh để che chở trước những bất trắc rình rập quanh mình. Ở Hồng, tôi cảm nhận được một tâm hồn rất lạ, mong manh, dạt dào cảm xúc, nhưng vẫn đủ quyết tâm, vượt qua muôn vàn khó khăn.

Xuất phát từ ước muốn giúp Hồng, tôi cố tìm hiểu những vấn đề liên quan tới người khuyết tật. Cuộc tìm kiếm dẫn tôi tới ngôi trường bán trú dành cho thanh thiếu niên khiếm thính. Sau lần tiếp xúc với bà hiệu trưởng, tôi đã phải bỏ hàng giờ thuyết phục dì Năm, người thiếu phụ chỉ biết ẩn nhẫn, cam chịu những đắng cay rơi xuống cuộc đời. Ngày đầu tiên đi học, tôi dẫn Hồng tới tận cửa lớp, giao em cho cô giáo đã từng mười bẩy năm lăn lộn trong nghề. Tôi nán lại, đứng ngấp nghé ngoài cửa hằng giờ để xem em học. Trước mắt em là một lằn ranh vô hình, nhưng lắm chông gai và em đang cố gắng chập chững bước qua, lằn ranh ấy dẫn em vào cuộc sống khác. Đón em ở cổng trường, tôi đọc được trong bước chân và đôi mắt cô bé niềm say mê và hân hoan.

Thời gian trôi qua, không tính bằng ngày, mà bằng tháng, bằng năm. Nhờ chiếc máy trợ thính, em đã học đủ hai mười bốn chữ cái, đã biết ghép vần, đã biết viết lên bảng những dòng chữ nắn nót nhưng vẫn liêu xiêu, đã đọc được sách báo và đặc biệt đã biết phát âm, dù những âm không chuẩn, nhưng đủ giúp em từng bước hòa nhập vào thế giới con người. Suốt thời gian ấy, tôi luôn ở bên em, đón nhận nụ cười mỗi lúc thành công, dù rằng rất nhỏ, và cả giọt nước mắt khi gặp khó khăn không dễ vượt qua. Tôi sung sướng khi thấy đâu đó trên đường em đi, có cả những bước chân tôi. Con bé mười sáu năm nào, nay đã thành cô gái mười chín, đôi mươi, khuôn mặt rạng rỡ niềm tin.

Mỗi chiều chủ nhật, tôi thường chở Hồng đi chơi đây đó. Không gian của em không còn tù túng giữa bốn bức tường của căn gác gỗ, trong xóm lao động nghèo nàn. Dì Năm hoàn toàn tin tưởng, giao Hồng cho tôi coi sóc, chính vì vậy tôi càng phải giữ gìn.

Tôi còn nhớ rõ, năm ấy, buổi sáng mồng ba tết, tôi với Hồng đi xem Hội Hoa xuân. Giữa muôn vàn sắc hoa, tôi chợt nhận ra không gì có thể sánh với vẻ đẹp của con người, và lần đầu tiên lòng tôi gờn gợn một cơn sóng nhỏ. Trên đường về, Hồng luôn miệng líu lo, dù vẫn là những âm chưa chuẩn, kèm với một loạt ký hiệu của người khiếm thính. Hồng đã có một ngày vui trọn vẹn.

Trước lúc bước vào nhà, Hồng quay lại nhìn tôi, một chút nắng hồng rực lên gò má, đôi mắt sâu thẳm bối rối, ngập ngừng. Rồi bằng một cử chỉ đầy vẻ lóng ngóng, nhưng dứt khoát: ba ngón giữa bàn tay phải co lại, ngón cái và ngón út duỗi ra, đặt vào trái tim, sau đó cũng bàn tay ấy chỉ về phía tôi, rồi Hồng ù té chạy vào nhà, bước chân luống cuống.

Ký hiệu ấy mang ý nghĩa gì, tôi không hiểu, nhưng vẫn mơ hồ linh cảm, có một biến chuyển nào đó rất lớn đang âm thầm diễn ra trong tâm hồn Hồng.

Hè năm ấy tôi tốt nghiệp, thế là tôi với Hồng đã sống bên nhau tròn bốn năm rồi, bốn năm tràn đầy kỷ niêm.

Ăn mừng lễ ra trường, sau buổi liên hoan, bọn tôi rủ nhau làm tiếp hiệp hai. Những chai bia trong quán nhậu, trong nhà hàng karaôkê. Tuổi trẻ được một phen phá phách điên cuồng, bù lại chuỗi ngày vùi đầu trong sách vở. Khi tất cả đã ngà ngà, một gã bạn quý tử lấy trong bọc mấy tờ giấy thiếc. Gã gật gù:

- Chơi không ?

-Gì nữa đây ?

Gã nhìn tôi chế riễu:

-Đồ Hai lúa .

Gã cẩn thận cuốn tờ giấy thiếc thành hình cái phễu, sau đó trút ít bột trắng lên tờ giấy khác. Rút chiếc quẹt đã gỡ bỏ miếng kim loại che lửa, gã nhìn bọn tôi một lượt :

-Đứa nào không dám thì về với mẹ .

Trong căn phòng tù mù, gã quẹt lửa, rồi bằng cử chỉ sành sỏi, gã bắt đầu công việc đốt cháy cuộc đời. Sau khi hít một hơi dài, gã bật ngửa ra ghế, lơ mơ :

-Tới phiên đứa khác.

Chiều hôm ấy, bọn tôi lao đầu vào cuộc phiêu lưu rồ dại. Vừa hít dứt một hơi, toàn thân tôi bỗng thấy tê rần, cảm giác đê mê lan tỏa tới tận đầu ngón chân, ngón tay. Căn phòng vang lên những tiếng nôn oẹ, số thức ăn trong ruột tự động vọt ra thành vòi. Tôi hoàn toàn rơi vào trạng thái lơ mơ, nhẹ hẫng, không trọng lượng. Trước mắt tôi, những khối ánh sáng mầu hồng bắt đầu nhảy múa, lung linh.

Đêm đó, không rõ tôi đã về nhà bằng cách nào. Buổi sáng thức dậy, miệng khô và đắng ngắt. Nhớ chuyện chiều qua, lòng tôi không khỏi lo lắng, hối hận. Nhưng dù cố xua tan mọi ám ảnh, cảm giác lâng lâng, sung sướng vẫn không lúc nào rời xa. Tôi bỗng thấy bồn chồn, thèm khát, thèm những khối ánh sáng lung linh mầu hồng, thèm trạng thái bay bổng không trọng lượng, thèm cảm giác nôn nao, khoan khoái. Cuối cùng, bước chân vô định dẫn tôi tới với gã bạn nhà giàu. Gã đón tôi bằng nụ cười kẻ cả, dễ dãi :

-Thế nào, chịu rồi hả ?

Tôi ừ ào :

-Kể cũng hay hay.

Lưới nhện giăng ra, và tôi tự nguyện lao vào. Những dằn vặt, lo âu, ăn năn, hối hận, rồi hình ảnh mẹ tôi, người mẹ hy sinh cả tuổi trẻ để mong tôi thành người, rồi hình ảnh Hồng, người con gái mong manh, yếu ớt, coi tôi như một chỗ dựa an toàn, tất cả không đủ sức giữ chân tôi lại. Ba tháng trôi qua, thân thể tôi lúc nào cũng mệt mỏi, vật vờ.

Một buổi sáng, tôi rủ thêm bốn đứa bạn về phòng. Khi cả bọn vừa hít xong thì cánh cửa bật mở, và Hồng đứng đó, chết lặng. Dù đã bắt đầu lơ mơ, tôi vẫn cảm nhận được hết nỗi bàng hoàng, xót xa hiển hiện trong đôi mắt đen, hoảng hốt. Gã bạn nhà giầu cười rất đểu :

-Lo gì, cho em thử một tí là êm.

Tôi quay lại, bất ngờ táng cho gã một bạt tai. Tâm trạng hoang mang tột cùng, dưới mái nhà này, còn chỗ nào cho tôi ? Trong lòng em, còn chỗ nào cho tôi? Và tôi bỏ nhà với số tiền nhỏ dành để về quê thăm mẹ.

Đi hoang ba ngày liền, vất vưởng ngủ bờ, ngủ bụi. Một đêm, đang nằm trên ghế đá, cay đắng tính sổ cuộc đời, tôi chợt giật mình vì một chiếc bóng vật vờ. Đó là lão già cáu bẩn, nửa người, nửa ma. Dưới ánh điện vàng vọt, lão nhìn tôi, hất hàm :

- Mới đi bụi hả ?

- Sao biết ?

-Chưa bèo nhèo lắm. Nếu còn đường thì về đi.

Lão uể oải trải tấm ni lông nhớp nhúa trên cỏ, chuẩn bị đồ nghề. Vài phút sau, lão tụt quần tìm mạch máu. Một chút nước lờ nhờ chui dần vào huyết quản. Chích vừa xong, lão quăng ống, bật ngửa ra đất, đôi mắt đứng tròng, trắng dã, toàn thân run bần bật, miệng xùi bọt mép. Nhìn lão, tôi chợt rùng mình, ớn lạnh, đó sẽ là hình ảnh tôi trong tương lai ? Tôi không đủ can đảm nghĩ tiếp. Hồi lâu, lão bắt đầu cựa quậy, thều thào :

-Quá đã, quá đã !

Tôi cố làm tỉnh :

- Xe đuy den à ?

- Đồ bỏ. Tiền ít, muốn phê gắt, lấy sái, thêm chút mã tiền.

- Chất độc mà !

- Ưà, nặng tay là đi đứt. Thử không ?

Tôi lân la :

- Chơi lâu chưa ?

- Từ lúc mẹ cậu chưa ra đời. Xỉu xỉu hơn bốn mươi năm. Bốn mươi năm không thắng nổi một cơn mê.

Lão nhìn tôi diễu cợt:

- Sợ không ?

- Thế đã đi cai lần nào chưa?

- Tự nguyện có, bị hốt có, độ trên chục lần, không nhớ xuể. Bây giờ già ngắt, công an cũng chê .

-Không dứt nổi à ?

Giọng lão tỉnh khô, có vẻ bất cần đời :

- Việc đầu tiên khi ra trại là gì, biết không ? Tạt vào Mả Lạng làm một cữ cho đã thèm. Đó,cai là vậy đó .

Nghe lão, tôi chợt hoang mang đến tột cùng. Chẳng lẽ cuộc đời tôi cũng xám ngắt thế sao ?
- Hết thuốc chữa à ?
Lão nhìn tôi đăm đăm, rồi chậm rãi :

-Không một biện pháp cưỡng bách nào đủ sức cứu được con nghiện. Có chăng là một thứ tình cảm mạnh mẽ, vượt hẳn cơn thèm khát, kèm với một quyết tâm.

Sáng hôm sau, tôi len lén về phòng trọ, tính quơ một mớ đồ đem bán. Vừa đến cửa, tôi chợt sững người. Mẹ tôi đứng đó, dáng còm cõi, nhìn tôi rưng rưng. Cạnh mẹ tôi là Hồng, đôi mắt cô vời vợi, xót xa. Tôi lúng túng :

-Ai kêu mẹ lên ?

Mẹ không trả lời, chỉ nhìn tôi nghẹn ngào. Tôi chạy vào phòng, mở hộc lấy chiếc đồng hồ, rồi quày quả bước ra .

-Con đi đâu nữa ?

Hai người đàn bà đứng đó, ôm chặt lấy nhau, chắn bên khung cửa. Trong lúc hoảng loạn tới tột cùng, tôi vẫn còn đôi chút ý thức để nhận ra hai chiếc bóng nhỏ bé đó lại quá lớn, lấp kín cả bầu trời tối tăm trước mặt, và tôi đã cố gắng, cắn chặt răng, chặt đến mức cả môi và lợi đều túa máu, tôi đã không vượt qua lằn ranh cuối cùng, dù lằn ranh chỉ là khung cửa hẹp, đứng chắn bởi hai người đàn bà nhỏ bé và yếu đuối. Nước mắt, nước mũi bắt đầu chảy ra cùng với rớt rãi, đôi tay bủn rủn cố níu chặt thành giường, cơn lạnh từ ruột toát ra, chạy dọc khắp xương sống, lan tỏa toàn thân nhớp nhúa mồ hôi, ở đó như có hàng triệu con sâu bọ rúc rỉa từng phân da thịt căng nứt, từng đốt xương đau nhức, rã rời. Trong cơn vật vã điên cuồng , tôi mơ hồ thấy một bàn tay nâng đầu tôi dậy, một chiếc khăn lạnh úp lên khuôn mặt đầm đìa. Tôi vồ lấy bàn tay, cào cấu, rồi như con thú hoang, tôi cắn mạnh vào lớp da thịt mịn màng, tới lúc mơ hồ cảm thấy một dòng máu đỏ túa ra, tôi mới choàng tỉnh. Và, em ngồi đó, cứng người chịu trận, không một tiếng rên, dù là rất nhẹ. Em ngồi đó, nhỏ bé, thanh khiết, đôi mắt muôn vàn xót xa, pha lẫn hoảng hốt, hoang mang. Trong lòng tôi dâng lên niềm ân hận, một chút ân hận thoáng qua, rồi lại chìm sâu vào cơn vật vã. Cuối cùng tôi nằm vật xuống, toàn thân rã rời, đau nhức, đầu óc đầy mộng mị, nhưng vẫn trống rỗng, bềnh bồng. Trong cơn mê hoảng, tôi cảm nhận hơi lạnh từ những chiếc khăn ướt liên tục đắp lên mặt, lên toàn thân, những chiếc khăn lạnh giúp cơn vật vã dịu được đôi phần, và tôi chìm vào giấc ngủ chập chờn, hoảng loạn.

Thời gian trôi qua không biết bao lâu, tôi dần dần hồi tỉnh, bải hoải, rã rời. Hình ảnh đầu tiên vẫn là hai người đàn bà nhỏ bé, dịu dàng với ánh mắt bao dung. Cả hai vẫn ngồi đó, nhẫn nại, gom góp chút sức mạnh nhỏ nhoi, để cố kéo tôi trở về với cuộc sống. Trước mặt tôi vẫn là khung cửa hẹp, lằn ranh nếu vượt qua, tôi sẽ khó có cơ hội quay về. Ý tưởng bắt đầu được sắp xếp lại, tôi nhớ từng chi tiết nhỏ ba ngày lang thang đi bụi, cảm giác tủi nhục khi nằm vất vưởng ngoài công viên, rồi khuôn mặt những đứa bạn chỉ muốn kéo tôi cùng lội xuống vũng bùn, rồi hình ảnh ông già vật vờ, hơn bốn mươi năm không thắng nổi một cơn mê, và câu nói được thốt ra hầu như trong lúc tuyệt vọng tột cùng : Không một biện pháp cưỡng bách nào đủ sức cứu được con nghiện, có chăng là một thứ tình cảm mạnh mẽ, vượt hẳn cơn thèm khát, kèm với một quyết tâm .
Hai người đàn bà vẫn ngồi bên tôi, tôi thấy trong ánh mắt bao dung một sức mạnh không sao cưỡng nổi, tôi chợt ước ao họ cứ ở mãi bên tôi trọn đời, và tự nhiên nước mắt tôi ứa ra, chan hòa.

-Thằng khờ, ba ngày rồi đó, con ăn chút cháo cho đỡ mệt.

Giọng nói của mẹ tôi không vướng một chút trách móc, oán hờn. Giọng nói này tôi đã quen nghe từ ngày còn bé, mỗi khi trót lỡ lầm, sai phạm .

Dù miệng khô và đắng ngắt, tôi vẫn cố nuốt hết bát cháo hành nóng. Một luồng khí ấm lan nhẹ trong lòng. Tôi bắt đầu cảm thấy đôi chút thư thái. Tôi muốn trò truyện, kể lể, tôi muốn nói thật nhiều, nhưng cuối cùng chỉ lặng lẽ nhìn mẹ, nhìn em, tôi thấy ở em ánh mắt khắc khoải, đợi chờ. Và tôi quyết định gửi đi một tín hiệu : ba ngón giữa bàn tay phải co lại, ngón út và ngón cái duỗi ra, đặt vào phía trái tim, sau đó cũng bàn tay ấy chỉ về phía em. Tín hiệu ấy lúc này tôi đã hiểu, năm ngón bàn tay phải tạo thành chữ Y, chữ đầu của một từ mang trọn vẹn tình cảm sâu xa của con người. Tôi đã nói xong câu quan trọng nhất trong cuộc đời, cuộc đời tìm lại sau khi vừa đánh mất và tôi lại thiếp trong giấc ngủ hiền hòa.

Hơn một tuần lễ, cơn thèm thuốc mới thực sự chấm dứt, thể xác như đứa bé vừa ốm dậy, rã rời, liêu xiêu, nhưng trong lòng âm ỷ một quyết tâm rất lớn. Tôi bắt đầu tập thể dục, những động tác nhẹ nhàng, thở hít chầm chậm. Một tháng sau, tôi hầu như hồi phục hoàn toàn. Cuối năm ấy, ông thầy cũ dắt tôi vào làm trong công ty Tin học. Rồi Tết đến tôi lại đủ thanh thản dẫn Hồng đi xem Hội Hoa xuân. Mùa Xuân dành để thực hiện những ước mơ.

Tôi về quê, ngượng ngùng thưa với mẹ :

- Mẹ ơi ! Con tính lấy vợ.

- Thiệt không, lớn tướng rồi, mau cho mẹ có cháu nội bồng. Mà ai vậy ?

-Một người con gái không toàn vẹn.

Mẹ có vẻ chế riễu :

-Con cứ chỉ cho mẹ xem một người toàn vẹn đi.

Tôi chỉ thẳng vào người mẹ :

-Mẹ chứ ai.

Mẹ tôi bật cười :

- Khờ ạ ! Trên đời làm gì có người hoàn thiện. Bà mẹ chỉ toàn vẹn trước mắt đứa con khờ khạo.

Tôi gục đầu vào vai mẹ, thân thể kềnh càng của tôi không thể nằm lọt trong lòng, nhưng vòng tay bao dung đủ rộng để ôm trọn đời tôi.

Mẹ lại cười, nụ cười rất hiền:

- Thằng khờ muốn lấy ai đây?

-Mẹ biết rồi.

Mẹ lại cười rúc rích :

-Ừ, mẹ biết rồi, khờ ạ !

Một đám cưới nho nhỏ được tổ chức, đám cười đơn giản không hề gợi sự chú ý của mọi người.

Thế đó, tôi đã ở bên em, chứng kiến em từng bước trưởng thành, và em cũng ở bên tôi, chứng kiến tôi từng bước trở lại làm người. Đó là kỷ niệm, là chuỗi thời gian không thể nào quên .

Buổi sáng, trước khi tôi đi làm, không bao giờ vợ tôi quên một cử chỉ đã trở thành thói quen, nhưng không hề nhàm chán. Ba ngón giữa bàn tay phải co lại, ngón út và ngón cái duỗi ra, đặt lên phía trái tim, sau đó, cũng bàn tay ấy chỉ về phía tôi, kết thúc là một nụ cười, cười cả bằng miệng, cả bằng cặp mắt long lanh. Chính dấu hiệu ấy, với ba ngón giữa co lại, ngón cái và ngón út duỗi ra, đã giúp tôi đủ nghị lực phấn đấu để được làm người, để trở về với cuộc sống, và như thế xin cảm ơn em.
Đồng hồ nhà hàng xóm gõ mười hai tiếng. Trên mặt bàn, trang giấy đã kín, câu chuyện đã có phần kết. Đối với nhiều người, đoạn kết có thể bị chê là giả tạo, hời hợt, nhưng với tôi thế đã đủ rồi. Cánh chim nát đạn không dám bay xa.