Vũ Lưu Xuân
Xin hỏi, cuộc đời và phiên chợ chiều, có gì khác nhau?Khách lạ cùng gã thư đồng đến giữa lúc phiên chợ chiều đang họp. Từng mảng nắng úa ngoi ngóp trên cây, trên hàng quán, trên những tấm thân quằn quại ướt đẫm mồ hôi. Khách định đảo một vòng, nhưng mùi thịt, mùi cá, mùi mắm, mùi người, những tiếng văng tục chí chóe, cái không gian đặc quánh ô trọc làm khách lợm giọng, buồn nôn, vội vàng rảo bước. Con đường làng trải rộng ánh trăng, những tiếng gà gáy sai canh eo óc từ các xóm ven đê làm tăng thêm vẻ lạnh lẽo, cô tịch. Đi chừng dập bã trầu, khách tới gõ cửa một ngôi chùa cổ. Có tiếng sư già lẹp kẹp ra mở cổng.
- Bạch cụ, chúng tôi là khách lỡ độ đường, xin phiền cụ cho tá túc đêm nay.
- Mô Phật, cửa Thiền bao giờ cũng rộng lớn mở đón khách thập phưong, xin ông đừng ngại.
Sư già dẫn khách vào thiền phòng trong dãy nhà ngang. Trong phòng chỉ kê duy nhất một chiếc kỷ trà, trên kỷ có vài cuốn sách nho và một chiếc mõ cá. Chủ khách ngồi đối diện trên những tấm bồ đoàn đan bằng cỏ cói. Sau tuần trà nước, câu chuyện mỗi lúc một thêm cởi mở.
- Chẳng hay ông là người ở hạt nào ?
- Trình cụ, tôi ở bên bờ Tô Lịch. Cảnh nhà thanh bạch, gia mẫu mất sớm, mấy năm trước gia phụ cũng nối gót quy tiên. Bây giờ rộng cẳng, tôi định ngao du một chuyến.
- Ra vậy, thế ông đã định ghé đâu chưa ?
- Trình cụ, tôi cứ lang thang, thấy đâu hợp cảnh hợp người thì nán lại dăm bữa nửa tháng, thảng hoặc nửa năm cũng nên.
Qua câu chuyện, khách trọng sư già là người cao khiết, phóng dật; sư già cũng coi khách là chỗ tri âm.
- Tôi mấy chục năm thân gửi cửa không, vậy mà bảy tình mới dám diệt sáu, còn để lại một, ông biết để làm gì không? Hà hà... Để yêu văn chương và khách văn chương.
Chuyện vãn hồi lâu, hai bên cũng ngả bàn cờ. Khách thường khai cuộc bằng nước pháo đầu, mã đội, chủ ở thế công, chẳng may gặp phải sư già đáng mặt đại quốc thủ, nên nhiều phen đâm ra thất thố. Tuy nhiên mỗi khi lâm hiểm cảnh nhất là lúc tàn cuộc, khách luôn luôn thận trọng, đắn đo từng nước, rồi cũng thoát được khó khăn. Sư già gật gù tán thưởng. Cuộc cờ kéo dài tới quá nửa đêm, hai bên mới tạm nghỉ.
- Tôi nói khí không phải, nếu không chê cửa thiền chật hẹp, cơm thiền rau dưa, mời ông nán lại ít lâu, chẳng mấy khi gặp được tri kỷ.
Sư già dành cho chủ tớ khách căn phòng nhỏ quay ra vườn, vốn yêu cây cảnh, chiều chiều khách tản bộ khắp xóm, tìm về đủ các giống hoa. Nhờ kỹ thuật tổ truyền, chẳng mấy chốc, một khoảng vườn trước, những chồi hồng, cúc đại đóa, thược dược, mẫu đơn, phù dung đua nhau nở rộ. Ngày hai bữa sáng chiều khách gia công tưới cây, tỉa lá, bắt sâu.
Một buổi sáng vừa ra vườn tưới cây, khách chợt bắt gặp một người con gái đang nghiêng mình ngắm chồi thược dược. Không hiểu nắng mai hay sắc hoa phản chiếu mà đôi má nàng ửng hồng. Màu áo lụa Hà Đông làm nổi bật nước da trắng muốt, tương phản với mái tóc huyền buông xõa ngang vai. Nụ cười trong sáng trên khuôn mặt trang điểm sơ sài, không thể che nổi chút gì bẽn lẽn.
- Vườn hoa này chắc chính tay ông trồng ?
- Vâng, tuổi trẻ đã sớm học thói lão giả an chi, cô có cười không ?
- Đâu dám. Hôm nay cha tôi sai sang xin cụ lập đàn, không ngờ lại có dịp ghé xem vườn cảnh. Đúng là muôn hồng nghìn tía. Riêng tôi thích nhất mấy cành phù dung, cái màu hoa bạc mệnh làm sao. Mà phải chăng cảm nhận cái đẹp, nhiều lúc phát xuất từ đôi chút luyến tiếc những gì mong manh dễ vỡ, dễ mất, rất tha thiết mà không sao giữ được. Như vậy cái đẹp rất gần với bèo bọt hư ảo - Cô gái lại cười - Tôi nói quấy quá chả biết có đúng không ?
- Chà, không ngờ lại được nghe cô triết lý.
Cô gái lảng sang chuyện khác.
- Hình như mỗi khuya ông thường thổi tiêu, tiếng tiêu nghe thật buồn.
Khách bật cười:
- Song cũng cầm bằng hư ảo nốt phải không cô ?
Cô gái khuất hẳn sau bức tường hoa, khách còn đứng lặng trông theo.
Hôm sau, lúc sương sớm còn đục trắng bầu trời, khách đã lững thững ra vườn, dáng bần thần, trầm ngâm. Có tiếng sư già đằng hắng :
- Mô Phật ! Trời chưa sáng hẳn, ông đã ra săn sóc vườn hoa.
- Không hiểu sao đêm qua hơi khó ngủ - khách đổi giọng tò mò - Hình như sáng mai cụ lập đàn ?
- À phải, ngày mai tôi lập đàn cho bên cụ Phủ. Hôm qua con gái cụ đã sang đây.
Khách ngập ngừng :
- Như vậy cô gái hôm qua...
- Là Bích Du, con gái độc nhất của cụ Phủ Từ Sơn đã cáo lão hồi hưu.
Giọng khách mơ màng :
- Bích Du, nghe có phong vi phiêu lãng.
- Có lẽ cái tên đã vận vào thân. Bích Du vốn là cô gái thích rong chơi trên đồng cỏ xanh, tính tình phóng khoáng, khác hẳn người cha. Mô Phật ! Mà thôi, kẻ tu hành chẳng dám lạm bàn chuyện nhân thế.
Khách nhỏ nhẹ :
- Đêm qua tôi có tiếp lời Vy Chi làm được mấy vần thơ Hội Chân (gặp Tiên), xin trình cụ duyệt cho.
Sư già mỉm cười như soi thấu lòng khách.
Sáng ngày chính giỗ, cụ Phủ Từ Sơn dẫn tên gia nhân lễ mễ bưng mâm hoa quả sang chùa. Buổi lễ cầu siêu chấm dứt, cụ Phủ theo chân sư già xuống nhà ngang, lúc ấy đang có mặt khách. Sau khi giới thiệu đôi bên, cả ba thong thả nhấp giọng chén trà Long Tỉnh.
- Trình cụ, rõ khéo chẳng mấy chốc mà cụ với tôi đã sắp bước vào tuổi cổ lai hy. Mấy chục năm bận việc quan tư, nay chỉ còn lo bề gia thất cho con cháu bé là có thể yên tâm an hưởng tuổi trời.
- Bẩm vậy Bích Du đã...
- Cháu đã mười tám tuổi rồi, mau thật, mới ngày nào...
- Vâng mau thật. Vậy cụ đã nhắm được chỗ nào làm rể giường Đông chưa ạ ?
- Trình cụ, cũng có mấy đám, nhưng tôi chưa thật ưng bụng, ít ra cũng phải kén chân cử nhân hoặc hậu bổ cho cháu gửi gấm tấm thân, phiền nỗi con bé cũng hơi khó tính.
- Bẩm vâng.
- À này ông, tôi nghe nhà nước sắp tuyển người vào trường Hậu Bổ, ông có nghe nói không?
- Dạ bẩm tôi cũng có nghe loáng thoáng.
- Nói ông bỏ quá, nếu có quen vị đường quan nào cũng nên cậy cục nhờ đỡ đầu hộ. Thời buổi này ai chẳng phải lập thân, tới lúc thanh vân đắc lộ, còn ai dám cười mình.
- Bẩm vâng.
Sau khi cụ Phủ về, khách lục hành lý lấy một lô sách đem ra phơi ở trước sân, từ cuốn sách chữ Hán, chữ quốc ngữ mỏng vài chục tờ, tới quyển sách Pháp dày mấy trăm trang. Mấy ngày đầu cầm tới sách vở, khách dạt dào hứng thú như gặp lại cố nhân, thêm phần mường tượng “thư trung hữu nữ nhan như ngọc”. Nhưng dần dần cái không khí cử tử, câu chấp bốc ra từ trang sách, cái lối uốn bút cho cong, vo ý cho tròn làm khách chán chường, ngao ngán.
Trong khi đó, chiều chiều cụ Phủ lại khăn áo lên chùa, thỉnh một hồi chuông, đọc một đoạn sách. Đi ngang phòng khách ở, cụ Phủ nhìn vào mỉm cười bâng quơ. Khi buổi kinh chiều chấm dứt, cả ba lại ngồi trong nhà ngang đàm đạo.
- Trình cụ, trước kia mải lo việc nước việc nhà, thôi thì cũng tuế tóa qua ngày. Bây giờ thư rỗi, không dám sao nhãng việc tụng kinh niệm Phật, trước là để tâm hồn thanh tĩnh, sau là tích phúc cho con, cụ tính có phải không ạ ?
- Bẩm vâng.
- Này ông, nghe đâu...
Câu chuyện càng ngày càng tẻ nhạt, thường kết thúc bằng những tiếng “bẩm vâng” uể oải. Cho tới một hôm không còn chịu nổi, khi cụ Phủ chưa tới, khách đã vội vàng đội mũ ra đi. Đầu óc trống rỗng, bước chân lầm lũi vô tình đưa khách tới phố chợ. Vẫn cảnh vật lộn, tranh giành, vẫn mùi thịt, mùi cá, mùi mắm, mùi người ngợp ngụa, nhưng hôm nay đối với khách hình như cả cái không gian đặc quánh không còn tanh tưởi, lợm giọng như xưa. Thay vì trở gót, khách tò mò dấn bước đảo một vòng. Những tiếng chào mời, chèo kéo cớt nhả lại có vẻ mang một ý vị riêng. Cô quán có cặp mắt lá răm lúng liếng đon đả :
- Bẩm hàng cháu có con cầy tơ mới ngả hồi trưa, mời ông xơi thử.
Khách mạnh dạn kéo ghế gọi cút rượu ngang với đĩa cầy luộc. Chất rượu ngang xé cổ với mùi thịt chó gây gây chấm mắm tôm chanh, ăn kèm riềng với lá mơ, chẳng mấy chốc tạo cho khách một cảm giác ngần ngật, thú vị.
Phiên chợ chiều gần vãn, khách mới loạng choạng đứng lên, đầu tuy hơi nặng, nhưng lòng và chân nhẹ hẫng. Con đường làng trải đầy ánh trăng dường như mất hẳn vẻ nên thơ, quyến rũ. Tất cả chỉ còn lại cảm giác rạo rực qua từng hơi thở gấp. Vừa tới cổng chùa, khách đã thấy sư già đang đứng ngóng. Sư già liếc nhanh :
- Ông mới xuống phố ? Tôi nói khí không phải, lòng người kẻ chợ trắc trở đa đoan. Mô Phật! Mà thôi, kẻ tu hành chẳng dám lạm bàn chuyện nhân thế.
Khách cúi đầu bước vào phòng. Đang cơn háo hức, khách mở vội mấy trang sách và bỗng gặp lại cái hào hứng buổi đầu, đọc đâu nhớ đấy. Những dòng chữ gò ép, hời hợt tưởng chừng mất hẳn vẻ trơ trẽn thường ngày. Nhưng khi hơi rượu đã ngàn, tất cả cảm giác phấn khởi cũng từ từ tiêu tan. Tâm tư khách chìm ngập trong trạng thái trống rỗng chán chường, không gì bù đắp nổi. Khách lặng lẽ ra ngồi ở mé hiên, ngẩng mặt nhìn trời, rồi thổi một khúc tiêu. Có tiếng thở dài của sư già :
- Mô Phật ! Đời là bể khổ, nước mắt chúng sinh trong ba ngàn thế giới góp lại còn nhiều hơn nước đại dương.
Rồi cứ thế, như một thói quen khó bỏ. Chiều chiều khách lại đội mũ xuống phố. Không hiểu khách mê gì ? Mê cái không khí hỗn độn, bát nháo, mê rượu, hay mê cặp mắt lá răm của cô quán ? Dần dần khách trở nên quen thuộc với ông thông, thầy ký, bác phán già, những con người bùn nhơ đã ngập lút chân, lại thêm mấy gã thanh niên tấp tểnh. Chiều nào bằng ấy khuôn mặt cũng túc trực xung quanh cô quán, những câu chuyện bù khú, sống sượng, trước kia thoáng nghe khách đã nhăn mặt bỏ đi, bây giờ lại cảm thấy hay hay, thỉnh thoảng cũng góp vài lời.
- Bẩm hàng cháu chiều nay có món lòng lợn, tiết canh, mời ông mở hàng cho một đĩa.
Khách vốn rất sợ máu tươi, chỉ thoáng nhìn qua cũng đủ lợm giọng, vậy mà chiều nay lại muốn nếm thử cho biết. Khách cười hào sảng :
- Ông thông, thầy ký, bác phán, cả các anh nữa, lại đây làm với tôi vài đĩa cho vui.
Ông thông dáng xun xoe :
- Quý hóa quá, gì chứ món ấy thì chúng tôi chả dám từ.
Thầy ký cũng chen vào :
- Bẩm giời gai gai thế này mà ta ngả thêm dăm cút rượu ngang nữa thì tuyệt.
Cô quán cười tít cặp mắt lá răm :
- Rượu Văn Điển chính gốc của nhà cháu cứ gọi là mềm môi không chán.
Đĩa chén được dọn ra, tiếng cười nói rôm rả, toàn những chuyện trên trời dưới đất. Khách muốn tỏ ra ta sừng sỏ trong giới ăn chơi, cứ tì tì nốc hết ly này sang ly khác. Tới cút thứ ba, lưỡi khách bắt đầu líu lại.
- Cô quán đâu, cô quán... Gọi bác xẩm chợ vào đây ca lý nghe chơi.
Mọi khuôn mặt đều đỏ lừ như gấc chín, nồng nặc hơi men. Khách lè nhè :
- Ta mà say ư ? Ta say thì Lưu Linh, Lý Bạch đã chết vì rượu hết rồi.
Chẳng biết uống thêm được mấy ly, khách đổ gục xuống bàn, thức ăn tung tóe văng đầy lên mặt. Đầu óc lùng bùng, như có trống khua, mõ gõ. Trong cơn mê sảng, khách thấy mọi hình thù trước mắt như nhảy múa loạn cuồng. Ở góc chợ, bác hàng tôm đá tung thúng mủng gào lên :
- Không có cái cử nhân, hậu bổ thì đừng có mà vác mặt mo tới đây. Đồ trời đánh thánh vật.
Chị bán thịt vung dao chém xả xuống thớt :
- Bà mà thèm gả con cho cái ngữ mày ư ? Có mà cái ba vạn chín...
Mấy mụ xồn xồn xắn váy vỗ bồm bộp :
- Này bà bảo cho mà biết, cử nhân, hậu bổ đấy.
Bác phán già chân trên chân dưới, vừa gõ chén vừa rao :
- Cử nhân ba trăm lạng, hậu bổ hai trăm.
Khách đập mạnh tay xuống bàn :
- Cô quán, cút nữa...
Cô quán cũng đang xắn tay áo nhảy đong đỏng. Bác xẩm chợ ngơ ngác :
- Loạn à ? Loạn thật rồi - Bác vùng dậy, đập tan chiếc nhị - cử nhân, hậu bổ, này tiến sĩ đây.
Miệng khách sùi bọt, lảm nhảm :
- Cử nhân... Hậu bổ... Bẩm vâng... Em ơi...
Trong cảnh tranh tối tranh sáng chập chờn, cả chợ như đoàn lũ âm binh cuồng loạn.
Không hiểu khách về chùa bằng cách nào. Buổi sáng tỉnh dậy, miệng khô đắng, đầu nhức như búa bổ. Khách vục cả đầu vào ang nước một lúc, rồi cứ thế nặng nề lê bước vào Chánh điện. Đối diện trước tượng Phật, khách ngồi bất động, đăm đăm nhìn mấy cây nhang cháy dở. Nhang cháy hết ba tuần, khách vẫn ngồi bất động. Tới quá trưa khách mới lặng lẽ về phòng. Khách gom hết chồng sách vở, chất thành một đống giữa sân, rồi đánh diêm châm lửa. Khách mở to mắt ngậm ngùi ngắm cuộc phần thư. Gió bỗng nổi lên khắp trời. Từng lưỡi lửa bốc cao, tro tàn tung bay bốn phía. Khi ngọn lửa phần thư tàn lụn, ở góc sân chỉ còn lại một mảnh giấy xém hết phần ba. Khách nhặt lên liếc mắt đọc :
“Phía Tây sa mạc có giống chim lạ. Đôi cánh trắng muốt như đám mây phủ rợp một góc trời. Những đêm trăng rằm, chim thường hút gió vút lên, nửa vời rơi xuống lại hút gió vút lên, muốn nuốt cả trăng trời vào bụng. Thảng hoặc chim lạc về miền hạ, thường nhịn đói không chịu ăn một hột. Sau khi kêu ba tiếng lớn, chim xếp cánh lao xuống dòng trường giang, nuốt trăng mà chết. Thiên hạ cười gọi là giống chim điên".
Sư già đứng ở mé hiên, gật gù lẩm bẩm :
- Cờ đã đến hồi tàn cuộc. Cân nhắc nước đi, tìm đường thoát hiểm, thận trọng mà dứt khoát, quả thật đáng khen.
Khách từ giã sư già, cùng gã hề đồng, lẳng lặng rời xa phố chợ, rời xa đoàn âm binh. Phiên chợ chiều lại bắt đầu họp.
No comments:
Post a Comment