Thursday, March 6, 2008

NỬA HỒN TRONG TRANH


Vũ Lưu Xuân



Chiều ba mươi tết, lão đãng tử già thu xếp mớ đồ đạc lỉnh kỉnh, leo lên chiếc xe gắn máy cũ kỹ rồi bỏ đi, việc lão bỏ nhà đi biền biệt mấy ngày liền đã trở thành thói quen, gia đình cũng chẳng ai buồn để ý, chỉ có điều hôm nay ba mươi tết, lão quên cả việc khói nhang là chuyện tương đối bất thường.

Con ngựa già đủ sức chạy một mạch đoạn đường ba chục cây số, đưa lão tới vùng bán sơn địa, lão lặng lẽ dắt xe vào ngôi chùa cổ, trước cổng tam quan lờ mờ hàng chữ Hán: Thạch Tân tự. Chùa Bến Đá lọt giữa ba tầng núi, trước mặt là sông. Lão có vẻ hấp tấp, không ghé vào thiền phòng thăm sư cụ, mà theo lối mòn quen thuộc vòng xuống hậu liêu, rẽ thẳng ra mé bờ sông. Ráng chiều vàng úa, phiêu phiêu đổ, bờ sông phất phơ mấy hàng lệ liễu, xen lẫn với vài chục gốc đào bắc, mai nam. Cảnh vắng thêm phần hoang phế, rét mướt, tĩnh lặng đến vô cùng. Sư già khoác vội chiếc áo cà sa bạc phếch, lặng lẽ liêu xiêu men theo bờ sông, tiến tới gần lão, lão cũng chỉ lặng lẽ gật đầu chào cố nhân. Mớ dụng cụ bầy ra trên bãi cỏ non, một giá vẽ, mớ cọ, hộp bột màu, tờ giấy làm hàng mã xam xám, bồi sẵn trên miếng ván ép được xếp lên giá. Sư già nheo mắt:

- Ông đi vẽ tranh?

- Vâng.

Lão chậm rãi:

-Đãng tử hồi đầu, sáu mươi tuổi bắt đầu học vẽ, lòng chỉ ao ước có được bức tranh chùa Thạch Tân vào đêm ba mươi tết.

- Sao lại phải vẽ vào đêm ba mươi tết?

-Vẽ không giống như chụp, máy ảnh vô tri. Còn người nghệ sĩ nhìn cảnh bằng hồn.

Sư già gật gù, vẻ đăm chiêu. Lão đãng tử chợt thao thao, dáng thanh thoát, vời vợi trang nghiêm như hòa thượng thuyết pháp, trong ánh mắt già một tia nắng chiều sắp tắt vụt sáng lên:

-Đêm ba mươi tết không giống bất kỳ một đêm nào khác, không như đêm mùa hạ, mùa thu, mùa đông, đêm ba mươi khiến lòng chợt gợi lên ký ức của một đời, của một thời. Ký ức vời vợi những còn, những mất, những được, những thua, những đắng cay, dịu ngọt. Người già cảm nhận đêm ba mươi tết như chặng cuối của cuộc đời, cuộc đời hư vô và mung lung, có bến mà vẫn như không tìm được chỗ đậu thuyền, cuối cùng chỉ còn sót lại một khoảng thời gian rất ngắn, rất ngắn nên phải cố đuổi bắt cho kịp. Tâm thức đó được đưa lên giấy, trong sự hòa nhịp trọn vẹn giữa người và trời, khi ấy trời không còn là một khoảng không lạnh lùng, vô tri, vì trong tranh đã có hồn.

Sư già thở dài:

-Mô Phật! Trầm luân một cõi đi về phù du. Thôi, chẳng dám khuấy động ông nữa.

Sư già quầy qủa trở về chùa. Còn lại một mình, lão di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác, mắt nheo nheo ngắm nhìn ngôi chùa cổ mái bạc mầu rêu, ngắm trời, ngắm đất. Cuối cùng lão cũng chọn được vị trí thích hợp để kê giá vẽ. Từ vị trí này, lão thấy một góc chùa và cả dòng sông. Góc chùa ẩn khuất, lờ mờ. Dòng sông sáng hơn, sông hẹp, nước hiền hòa, không giống như cuộc đời nổi sóng, cuồn cuộn bon chen. Mé bờ sông có một lá thuyền con bồng bềnh, không người, không lái. Lão lặng lẽ, xuất thần, rồi ngồi tựa lưng vào cội mai già thiêm thiếp. Đêm dần xuống, trở lạnh, trở gió, gió heo may, rì rào. Trời không trăng, nhưng đầy sao và đặc biệt trong xanh, cao vút. Có vẻ trời cũng chiều người, không tối âm u như đêm ba mươi thường tình. Lão vươn vai đứng dậy, thắp một ngọn đèn bão. Ánh sáng lù mù, chỉ vừa đủ soi giá vẽ. Lão bắt đầu ngưng thần, phác họa cảnh vật bằng viên than. Dưới mái hiên, lúc này sư cụ đã thắp ngọn đèn lộng hình búp sen, ánh sáng nhân tạo duy nhất, hắt qua lớp giấy kiếng đục khiến cho lối vào tĩnh phòng càng thêm lung linh, mờ ảo. Một góc chùa, một dòng sông với hàng lệ liễu, một con thuyền, và xa, rất xa, một viền núi lờ nhờ, cảnh vật hiện lên trên trang giấy chỉ có thế thôi, và cuộc đời cũng chỉ cần có thế thôi.

Lão bóp một ít keo lên tấm bảng mầu, dùng đầu cọ nhúng vào các ngăn vàng đất, nâu, xanh lá, xanh da trời và tím đen. Tất cả các gam màu đều lạnh và tối. Một lớp xanh da trời rất loãng và mỏng làm nền cho khoảng không gian và dòng sông, một lớp xanh da trời pha lẫn chút tím đen để viền mép núi, một lớp xanh lục pha đậm tím đen để vẽ hàng liễu rủ, mờ dần, mờ dần, một lớp nâu pha tím đen để tả gian chùa trong góc tối, những mảng mầu lần lượt đắp chồng lên nhau, lão chấm thêm một ít mầu huyết dụ, để tạo vùng ánh sáng hắt lên cửa phòng, dần dần hình thành một không gian rất lạnh, không gian của lão, của người nhìn hiện tại bằng tâm thức nhọc nhằn. Vẽ xong, lão lấy cọ, nhúng nước, xóa mờ những góc cạnh, bức tranh nhập nhòe, cảnh vật hòa quyện vào nhau. Đêm ngả về khuya, gió núi hú lồng lộng, lão dựng ngược cổ áo, làm vài cử động cho ấm người rồi lại tiếp tục.

-Đẹp mà buồn quá.

-Thật vậy ư?

Lão thủng thẳng quay lại. Một bóng dáng thanh thoát đứng khuất xa tầm ánh sáng, cô gái áo trắng, khuôn mặt lờ mờ, nửa đêm xuất hiện, phảng phất như gái lang thang đi về giữa cõi người và chốn Liêu Trai.

-Sao bác không dùng sơn dầu dễ tả hơn?

Lão nhìn cô gái có vẻ ngạc nhiên:

-Cháu cũng biết vẽ à?

-Biết sơ sơ, nhưng chưa đủ khả năng để gửi hồn vào tranh.

-Bác không vẽ sơn dầu vì không còn đủ thời gian chờ đợi. Sơn dầu lâu khô lắm.

Cô gái chợt thở dài:

-Không đủ thời gian, nó giống như một án phạt, lơ lửng, đe dọa.

Lão đãng tử già nhìn cô gái đăm đăm, ở cô gái có cái gì rất quen, nhưng vẫn lạ:

-Không đủ thời gian là án phạt đối với người già, đất rất gần mà trời hình như lại quá xa. Còn cháu, cháu trẻ mà cũng có ý niệm ấy sao?

-Có đó, bác ơi! Cháu cũng có đó. Đôi khi cháu cảm thấy sợ vô cùng. Cuộc sống được đếm từng ngày thực sự là một án phạt.

Một lần nữa lão lại nhìn sững cô gái:

-Thật vậy ư? Chẳng lẽ một cô gái trẻ lại mang trong lòng nỗi ám ảnh của thời gian?

Giọng cô gái thật buồn:

-Những bước ngoặt lớn trong cuộc đời hầu như đều đến thật tình cờ, vượt ra ngòai mọi dự đoán, toan tính.

-Nếu thế, cháu sẽ làm gì?

-Vẫn sống trọn vẹn những ngày còn sót lại. Cuộc đời đẹp lắm, nó giống như ánh nắng chiều trên đỉnh núi cao, càng nhìn càng khám phá ra những điều mới lạ. Ánh nắng chiều càng thêm đẹp vì sắp tắt. Cuộc đời càng thêm đẹp lúc sắp tàn.

Giọng nói đứt quãng của cô gái áo trắng điểm bằng tiếng mõ cá lóc cóc, từ ngôi chùa cổ vọng ra, chậm rãi, nhịp nhàng. Cô chợt lảng sang chuyện khác:

-Giá trên thuyền có một lão lái đò thì tranh ấm hơn.

Lão tư lự:

-Ừ, ấm hơn, thật ra, ... bức tranh này không cần có người.

-Nhưng bác này, bức tranh dường như vẫn còn thiếu một cái gì đó.

-Đúng rồi.

Lão lấy chiếc bàn chải đánh răng, nhúng nước rồi chấm bột trắng, vàng chanh, cam.

-Bác đang làm chi vậy?

-Cháu cứ chờ xem đi.

Lão búng lớp bột mầu lên khoảng trời, một mảng tranh lấm chấm những điểm nhỏ trắng, vàng và cam. Lão quệt một lớp trắng ngả vàng lên chóp núi, ngọn cây, mái chùa, rồi nhìn cô gái cười thật hiền:

-Bức tranh không cần có người nhưng phải có sao, thêm một chút ánh sáng. Đúng không?

-Đúng đó bác, điều may mắn là trong đêm tối hãy còn có sao.

*

Sáng mồng một tết, vẫn khoác tấm áo cà sa bạc phong phanh, sư già lặng lẽ đứng trước giá vẽ, vẻ thật đăm chiêu, giọng sư già nhẹ như gió thoảng:

-Dù sao một tấc quang âm vẫn là một tấc vàng.

Giọng nói thì thầm của sư già đủ khua động lão đang chìm trong giấc ngủ chập chờn. Lão vẫn nằm lười, đầu gối lên gốc hoàng mai, gốc hoàng mai sì sì, cũng già như lão, nhưng hoa vẫn đẹp. Lão chợt nhìn quanh:

-Đâu rồi, cô ta đâu rồi?

-Người con gái áo trắng trò chuyện lúc nửa đêm, phải không?

Sư già chợt thở một hơi thật sâu:

- Đi rồi, cô ta đi rồi.






Tuesday, March 4, 2008

TRÊN CẦU NHÌN LẠI

VŨ LƯU XUÂN


Loay hoay bên cạnh nấm mồ xanh cỏ, có khúc gỗ khắc nguệch ngoạc tên một người con gái, lão già cố trải thẳng tờ báo cũ trên mặt đất mấp mô. Lão móc trong túi vải đeo cạnh sườn, lấy ra chai rượu, ly xây chừng và một quả xoài xanh.

- Này cậu ! Uống đi, phải uống say tới mức có thể nhìn người hóa ma, nhìn ma hóa người.

- Bác nói chi lạ vậy ? Ừ, mà đúng thật. Nếu có thể nhìn ma hóa người thì hay biết mấy.

- Chứ sao – Lão cười tinh quái – Tôi biết cậu đang chờ một bóng ma từ cõi u minh.

- Sao bác biết ?

- Tôi đã ngồi đây đợi cậu từ sáng đến giờ.

Câu trả lời có vẻ không đâu vào đâu. Gã thanh niên ngơ ngác:

- Đợi cháu ? Mà chi vậy ?

- Đợi cậu, chứ còn ai. Đúng ngày con bé mất, thật dễ nhớ, rằm tháng 7 âm lịch, năm nào tôi cũng về đây thắp cho nó nén nhang và hỏi nó một câu “Cõi đời mênh mông, bố con ta, lấy đâu làm chốn đi về ?” Nó không trả lời, tính nó vốn vậy mà.

- Té ra bác là người đã cắm nhánh ngọc lan trên mộ.

- Chứ còn ai nữa. Mấy năm trước tôi luôn là kẻ đến sau. Mỗi khi tới, tôi đều thấy trên mộ ba đóa ngọc lan đặt trên tấm giấy học trò. Ngọc lan, nó thích ngọc lan lắm mà.
Lão chợt hỏi:

- Sao năm nay cậu trễ vậy ? Sắp tối rồi.

- Kiếm toát mồ hôi mới được chút lộ phí, may mà còn kịp.

Lão già lục trong túi vải, lấy ra một gói nhỏ:

- Có phải của cậu không ?

Gã thanh niên sững sờ. Đó cũng là ba đóa ngọc lan, nhưng héo quắt, biến dạng, gói trong tấm giấy học trò nhàu nát. Những cánh hoa trắng nuốt ngày nào nay đã vàng úa, quắt queo. Lão nhìn chằm chặp, lập lại:

- Có phải của cậu không?

Gã thanh niên chưa hết bàng hoàng, gã run tay bưng ly rượu nốc cạn một hơi. Lão già cười:

- Được, đã thế hôm nay không say không về, khốn nỗi đã say làm sao về được, mà về đâu ?

Lão vỗ vai gã thanh niên rồi chỉ ra mé bờ sông:

- Đó là cầu Nại Hà. Gò đất cao phía phải là Uổng Tử Thành, cửa dẫn vào địa ngục. Lối mòn phía trái là con đường hồn ma phải qua để đi đầu thai.

- Ai bảo bác đấy là sông Nại Hà ?

- Ôi chào ! Sông Nại Hà nghe đâu ở mãi bên Tàu, nhưng tôi vẫn thích coi đây là sông Nại Hà, có chết ai. Hay là uống dứt cữ rượu, ta qua đó coi chơi một chuyến.

Lão lè nhè, có vẻ chưa uống đã say:

- “Cầu Nại Hà kẻ trước người sau”. Rồi tới phiên tôi, rồi tới phiên cậu. Này.

- Gì bác ?

- Bốn năm rồi, hình như con bé vẫn chưa vượt hết cây cầu. Hằng năm, đúng ngày này, lúc trăng lên, tôi mường tượng thấy bóng nó lãng đãng, quanh quất, đứng trên cầu nhìn lại.

- Thật không bác ? Sao cô ta cứ dùng dằng, chưa chịu đi đầu thai bác nhỉ ?

- Ôi chào ! Chuyện cõi u minh nào ai biết rõ, có thể vì nó còn lưu luyến cõi đời, mà cũng có thể tại tôi hoa mắt cũng nên.

Gã thanh niên chợt ngó sững lão già:

- Mà bác là ai vậy ?

- Tôi hả ? Trước kia tôi là gã cai ngục. Về già, được chuyển qua trại nữ. Tôi gặp con bé ở đó. Con bé lạ thật, cả ngày cứ thẫn thờ như đứa mộng du.

Gã giục:

- Bác nói rõ hơn đi.

- Ngoài giờ lao động, lúc rảnh, nó cứ quanh quẩn bên gốc ngọc lan. Nhiều lần tôi gợi chuyện, nó chỉ ầm ờ, nói lảng. Bây giờ tôi hiểu rồi.

Gã thanh niên đầu cúi thấp, ngậm ngùi. Lão già tiếp:

- Tôi đã quan sát nó hàng giờ. Bên khóm ngọc lan cao hơn đầu người, nó không còn là cô gái giang hồ ghiền ma tuý, mà là một thiếu nữ mới lớn, trong sáng, thanh khiết. Mỗi lần gặp đóa ngọc lan chớm nở, mắt nó sáng lên, long lanh.

Gã thanh niên thở dài, uống liền ba ly rượu. Giọng lão già chùng xuống, dứt quãng:

- Càng lúc nó càng gầy đi, xanh xao, lẩy bẩy, hết ho lại sốt, hết sốt lại ho. Nó không ra ngoài được nữa, chỉ cố níu song sắt nhìn lên bầu trời. Tới một ngày, nó được chuyển đến trung tâm từ thiện, chuyên chăm sóc bệnh nhân AIDS thời kỳ cuối.

Lão lặng đi một hồi, rồi tiếp:

- Hôm ấy, cậu biết không, trước lúc lên xe, nó níu chặt tay tôi. Nó gọi “Bố ơi !” Lần đầu tiên tôi thấy khuôn mặt nó chan hòa nước mắt. Lão lẩm bẩm như nói một mình:

- Tôi là gã cai ngục già không vợ con, suốt 20 năm chung sống với những mảnh đời nhầy nhụa, những kẻ vừa là tội phạm vừa là nạn nhân. Đám nạn nhân của cảnh ngộ đưa đẩy chợt bừng tỉnh, khi phút chốc thấy mình biến thành tội phạm.

Lão thì thào:

- Nó là con gái tôi, vậy đó, đúng không con ? Còn cậu ?

- Cháu với cô ấy cùng quê, ở vùng sống chung với lũ. Nhà cô ấy nghèo lắm, mẹ góa, con côi. Cô bé rất ham học, có điều gì thắc mắc vẫn đem ra hỏi cháu. Cuối cùng đeo đuổi hết lớp tám đã là may lắm rồi. Năm 16, sau một trận lũ quét, cô ấy theo mẹ ra thành phố. Trước khi đi, cháu tặng cô ấy ba bông ngọc lan gói trong tờ giấy học trò. Năm ấy cháu cũng về Sài Gòn vừa làm vừa học.
Gã ngừng lại, như cố sắp xếp câu chuyện cho có đầu đuôi:

- Về Sài Gòn chúng cháu vẫn gặp nhau.

- Cô cậu yêu nhau chứ gì ?

Nét mặt gã thoáng chút bẽn lẽn, rồi chợt sa sầm:

- Trong cảnh lưu lạc, tha phương cầu thực, mẹ cô ta chấp nối với một gã giang hồ nát rượu. Một ngày, hôm ấy chủ nhật, cháu tới tìm, cô ta cố tình lánh mặt. Cháu đợi ở đầu ngõ suốt từ sáng đến chiều. Gặp nhau cô ấy kiếm chuyện gây gỗ, rồi ù té chạy về. Nhìn cử chỉ khác thường, cháu linh cảm cô ấy vừa trải qua một biến cố có ý nghĩa quyết định trong cuộc đời.

Lão già thở dài, ánh mắt mất hút trong cõi hư vô:

- Thế là câu chuyện khởi đầu. Nạn nhân từng bước biến thành tội phạm.

Gã nói nhanh trong hơi thở gấp:

- Không ngờ việc đời biến chuyển mau đến thế. Cô ấy đi bán quán cà phê. Cháu tới uống, cô ấy tiếp cháu như người khách lạ. Cô ấy nhập băng giang hồ. Cháu theo dõi, cô ấy xỉ vả nặng lời. Rồi cháu gặp cô ấy đứng ở công viên, cô ấy lạnh lùng mời cháu mua hàng trắng và đi khách.
Nói tới đây, gã nghẹn lời, đầu gục vào hai bàn tay.

- Thế cậu có giận nó không ?

- Tâm trạng cháu thật phức tạp : khinh bỉ, xót xa, tức giận, cuối cùng chỉ còn lại nỗi buồn, buồn cho số phận cô ấy và cũng buồn vì thấy mình bất lực.

Cố nén xúc động, gã tiếp:

- Rồi cô ấy bị bắt đi cải tạo, cháu vẫn theo dõi từng bước. Rồi cô ấy nhập viện, cháu vẫn theo dõi hàng ngày.

- Sao tôi không gặp cậu ?

- Vì suốt sáu tháng, cháu chỉ nép bên cửa sổ nhìn vào.

- Nó có biết không ?

- Hình như có biết. Một lần thoáng thấy cháu, cô ấy vội quay mặt vào trong, câm lặng và đôi vai chợt rung lên.

Giọng lão già khôn xiết ngậm ngùi:

- Đó là chút an ủi cuối cùng mà cũng là nỗi cay đắng tột cùng. Tội cho con bé ! Thế cậu có thấy tôi không ?

- Cũng đôi lần thấy bác, nhưng cháu không dám hỏi.

- Mẹ nó và tôi đã phải cố xin đưa xác nó về quê, đó là ước nguyện cuối cùng của nó. Mà hôm ấy cậu có biết không ?


- Biết chứ. Mẹ cô ấy và cháu giáp mặt nhau. Cả hai giật mình, sững sờ.
- Thế hôm đưa ma nó cậu có mặt không?

- Có chứ, làm sao vắng được. Còn bác?

- Tôi với bà mẹ đưa nó về quê chôn cất. Lúc ấy tôi nghỉ hưu rồi mà.

- Sao cháu không thấy bác ?

- Tôi cũng vậy, không thấy cậu. Lạ thật ! Đám ma chỉ có dăm bẩy người. Có lẽ tôi chỉ nhìn thấy cỗ quan tài.

- Còn cháu, xung quanh cháu dường như chẳng có ai. Cháu cố nhìn xuyên qua nắp ván thiên để tìm lại khuôn mặt người con gái năm 16.

- Cậu thấy gì vậy ?

- Cháu thấy hình ảnh người con gái thẹn thùng nhận ba bông ngọc lan, cùng với nụ hôn đầu đời. Còn nữa chứ, còn những giọt nước mắt lấp lánh hạnh phúc.

- Trước khi chết, nó nhờ tôi giữ kỷ vật duy nhất. Hơn hai mươi năm làm người, tất cả chỉ còn vậy. Bây giờ cậu đã hiểu rõ nó chưa ?

Gã lí nhí:

- Rõ rồi.

Chai rượu gần cạn. Lão già loạng choạng đứng dậy, lảo đảo đến bên mộ. Lão tu một ngụm lớn, rồi phun lên đám cỏ xanh.

- Này con! Bố đây!

Lúc ấy trăng đã lên cao, những ngọn tre phất phơ theo chiều gió làm ánh trăng chao đảo. Trên sông Nại Hà, mặt nước xao động, hắt hiu. Trời về khuya, trở lạnh, trở gió, gió hú từng hồi, trăng như sợ hãi, mờ đi. Từ bên kia sông, hình như có bóng một người con gái áo trắng từng bước lên cầu. Sương giăng, trời đục, dáng dấp người con gái lẩn khuất, mờ mờ nhân ảnh. Đến giữa cầu, người con gái dừng chân đứng lại, khuôn mặt lãng đãng sau bờ tóc rối hình như đang hướng về phía lão già với gã thanh niên.

Gã thanh niên say khướt, thều thào:

- Này em ! Trong cõi u minh ta vẫn đợi đây, ta vẫn đợi em từng bước đi về.

TỪ BÓNG TỐI BƯỚC RA


VŨ LƯU XUÂN


23 tháng Chạp, tôi nhận được một lá thư không đợi, thư đến từ vùng biển. Nhìn tên người gửi, tôi nhớ ngay đến con bé. Tôi gặp nó thật tình cờ, trên bãi biển, vào chiều 30 Tết năm qua. Chiều 30, khoảng thời gian biển vắng ngắt, không có bóng áo xanh, áo vàng, chỉ có mấy con chó đùa nghịch chạy rông. Lúc trẻ, chiều cuối năm, tôi có thói quen một mình ngồi trên bãi biển, ôn lại những kỷ niệm đẹp và những đắng cay. Vậy mà đã hơn 40 năm rồi, tôi trốn chạy hơn 40 năm rồi. Về với biển, tôi về với những kỷ niệm, còn hằn nhẹ nỗi xót xa.
Tôi gạt phẳng mặt cát, trộn nước biển với cát mịn.
Một giọng nói nhẹ nhàng làm tôi giật mình :
- Chú đang làm gì vậy ?
Trước mặt tôi là một cô gái ngồi trên xe lăn, nhỏ bé, dịu dàng. Trên khuôn mặt thanh tú, tôi bắt gặp đôi mắt đen, thật buồn, với nụ cười hình như biến dạng vì vị đắng.
- Chú đang tiếp tục một công việc bỏ dở từ hơn 40 năm trước.
Con bé có vẻ ngạc nhiên :
- Hơn 40 năm trước, thời gian dài quá, bằng nửa đời người.
- Ừ, dài thật. Lúc trẻ, chiều 30 Tết nào chú cũng ra đây, ngồi trên ghềnh đá, hứng lớp bụi sóng ướt đẫm khuôn mặt. Sau đó xây một lâu đài trên cát.
- Chi vậy ?
- Xây cho chú và cho một người tình. Cuộc tình dang dở, lâu đài cát chứng minh cho chú thấy : đời chỉ là hư vô.
Nó có vẻ mơ màng :
- Đời là hư vô ! Thật vậy chứ?
- Sai rồi. Sau nửa đời thất bại, chú chợt nhận ra rằng, đời chỉ là hư vô một khi ta lẫn lộn thực tại với ảo tưởng.
Nét mặt con bé cau lại, đôi mắt đen thấp thoáng một nỗi đau :
- Thật ra, có những thực tại làm con người nhức buốt, rất khó chấp nhận.
- Cũng vì thế mà chú trốn chạy hơn 40 năm.
- Cuối cùng chú lại quay về.
-Quay về khi đã tỉnh, dù muộn màng. Biển nhìn chú lớn lên, biển chứng kiến những buổi hò hẹn của cuộc tình đầu si dại, những nụ hôn, những giận hờn vu vơ. Cuối cùng nước biển hình như mặn thêm vì thấm đẫm nước mắt của một cuộc tình tan vỡ. Từ đó, chú bỏ biển mà đi, lang thang giữa cuộc đời.
Nó thở dài :
- Chú có nhớ biển không ?
- “Ngày mai anh đi, biển nhớ tên anh gọi về”. Biển có nhớ chú không ? Không biết. Riêng lúc về già, tỉnh lại sau cơn mê, chú chợt nhớ biển vô cùng. Chính vì vậy chú cháu mình mới gặp nhau, như một tình cờ.
Tôi tiếp tục công việc. Thắc mắc của nó làm tôi giật mình :
- Và chú lại xây lâu đài trên cát, như thế, cuối cùng, đời vẫn là hư vô.
- Không phải đâu. Đời chỉ là hư vô đối với những ai trốn chạy. Ở tuổi 60, chú nhìn lâu đài trên cát như một tác phẩm nghệ thuật. Đẹp không ?
- Đẹp ! Nhưng nó tồn tại bao lâu ?
- Không qua khởi cơn nước lớn đêm nay.
- Uổng thật.
- Này con bé ! Cái đẹp bao giờ cũng mong manh, dễ vỡ, dễ mất, phải biết trân trọng.
Nó trầm ngâm một lúc, rồi chợt vỗ vào bánh xe :
- Chú xem, với chiếc xe lăn, phía trước cháu còn lại những gì ?
- Còn chứ, rất nhiều. Còn biển bao dung, còn con người, còn những tháng năm có thể đầy ắp hoặc rỗng tuếch, tùy cháu chọn lựa.
Vầng trán thanh khiết thoáng mờ đi vì chút ưu tư :
- Thật vậy không ?
Tôi nhìn thẳng vào khuôn mặt con bé, nó cũng nhìn tôi đăm đăm, có chút thách thức. Tôi chợt nhận ra trong đôi mắt thấp thoáng nỗi đau một chiều sâu thăm thẳm. Chiều sâu chính là cơ may giúp ta dựng lại cuộc đời. Tôi quyết định đưa con bé đối mặt với thực tại :
- Cháu ngồi xe lăn lâu chưa?
- Hơn một năm rồi.
- Sao vậy ?
Giọng nó đứt quãng :
- Đó là kết quả của tuổi trẻ dại dột, đua đòi.
- Này con bé, ông chú già có đáng tin cậy để tâm sự hay không ?
Nó ngập ngừng rồi gật đầu:
- Năm lớp 12 - Nó chợt cười, đôi mắt như lóe lên đốm lửa nhỏ - cháu giỏi môn văn lắm đó.
- Khỏi nói chú cũng biết, không nịnh cháu đâu.
Thoáng vui vụt tắt lịm :
- Năm 12, cha mẹ cháu xào xáo, cháu buồn, đi hoang với bạn bè, rồi vũ trường, rượu, thuốc lắc. Lắc một lần, ba ngày vẫn quẹo cổ, rêm mình, nhưng cháu vẫn lắc, lắc giống như một thái độ phủ nhận cuộc đời, phủ nhận thực tại.
Nó dừng lại đôi chút, đầu cúi thấp :
- Một hôm say rượu, cháu tông xe. Tỉnh dậy, tóc cháu bị cạo một mảng.
Nó dở mũ ra :
- Chú thấy không, hơn một năm, tóc mới mọc lởm chởm đến mang tai. Ba tháng sau, cháu được đặt vào xe lăn, lặng lẽ lăn bên lề cuộc đời.
- Hiện thời cháu làm gì nào?
- Ăn, ngủ, buồn, thỉnh thoảng viết lung tung vài trang. Chiều chiều lăn xe giữa phố phường ra bãi biển, trầm ngâm, dằn vặt, chán nản, buồn và ghi lại nỗi buồn.
- Thế giữa phố phường, cháu thấy gì ?
- Thấy cảnh bát nháo, thấy những khuôn mặt mệt mỏi, lã chã mồ hôi, lại còn những ánh mắt, những nụ cười, những câu chửi thề, những đám đánh nhau.
- Gì nữa nào ?
- Ngoài bãi biển, đôi lúc cháu nghe loáng thoáng những lời hò hẹn, yêu thương.
- Đời là thế, nhưng đàng sau cảnh bát nháo là những mảnh đời, những thân phận, những dằn vặt, vật lộn, dằng xé, những nỗ lực đến tuyệt vọng để được làm người. Cháu cố tìm cho những hình ảnh xô bồ đó một ý nghĩa, rồi ghi lại, rồi viết ra, cháu giỏi văn mà.
- Cháu đã viết được vài truyện ngắn. Nhưng viết rồi để đó, thỉnh thoảng đọc lại, nhưng viết cho ai coi.
- Cháu lầm rồi, bài viết nào mang đậm chất người đều được chấp nhận, vì nó là cái gương, để ai đó nhận ra khuôn mặt mình, dù khuôn mặt đôi lúc bị biến dạng, nhưng ở tận cùng sâu thẳm, nó vẫn là khuôn mặt con người.
Con bé trầm ngâm thật lâu, rồi chợt nhìn lên :
- Chú còn ra đây nữa chứ ?
- Tất nhiên. Biển nhắc cho chú rất nhiều kỷ niệm.
Lúc chia tay, nó nhắc lại :
- 30 Tết năm tới chú lại về đây nhá.
Đôi mắt nó tha thiết, chân thành. Tôi trả lời không cần suy nghĩ :
- Chú trót mắc một cái hẹn.
- Với ai nào ?
- Với biển, với cháu. Chú sẽ về để ngắm mái tóc cháu dài ra, xõa ngang vai. Quan trọng hơn, để được thấy con bé vững vàng bước ra từ bóng tối.
Nó nắm tay tôi, cười, lần đầu tiên tôi thấy nụ cười không còn biến dạng vì vị cay.
*
Tôi mở thư ra đọc :
Chú thân mến.
Lần đầu tiên cháu viết cho chú, sau cuộc gặp gần tròn một năm. Cháu viết để nhắc chú một lời hẹn. Hẹn với biển và hẹn với cháu, chú nhớ không ?
Mái tóc của cháu đã dài ra rồi, vừa chấm ngang vai, óng mượt. Nhìn vào đôi mắt lạnh lẽo ngày nào, chắc chắn chú sẽ thấy một đốm lửa, đốm lửa thắp lên từ trái tim. Bánh xe lăn của cháu mòn nhiều vì những chặng đường, không chỉ hướng ra bãi biển, mà đi vào cuộc đời. Trên xe lăn cháu thiết kế một mặt bàn xoay. Ngồi đó cháu ghi chép, cháu viết, viết cho mình và viết cho người. Một ký giả quen với anh cháu đã đưa một số bài lên báo với bút hiệu Áo Trắng. Áo Trắng, cái tên gợi nỗi nhớ dành cho tuổi học trò, rất đẹp, nhưng cháu đã vụng về đánh mất. Từ đó, ngòi bút trẻ Áo Trắng được nhiều tờ báo giới thiệu, đôi lúc thổi phồng, nó luôn gắn liền với chiếc xe lăn của người con gái vùng vẫy vượt lên số phận. Có lúc cháu cảm thấy kiêu hãnh. Nhưng một hôm, ngồi đối diện với biển, cảm nhận sự nhỏ bé và cô đơn, cháu chợt nhận ra cái tên Áo Trắng hình như được thắp sáng trong vừng hào quang ảo, nó gợi sự tò mò, xót thương nhiều hơn là đón nhận vì mến phục.
Mấy tháng nay, cái tên ấy biến mất, cháu chôn nó rồi. Cháu vẫn viết và vẫn gửi đi, nhưng với tên khác, cháu sẵn sàng sắp hàng chờ đợi, để vào bằng cửa chính. Cháu của chú sẽ từ bóng tối lặng lẽ bước ra, chú có tin không ?
Ông chú nửa đời thất bại ! Quyết định của cháu đúng hay sai ?
Cháu